Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Anh, ông Đỗ Văn Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 172/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Thông báo số: 284/2024/TB-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Trọng H, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1988 tại Bình Thuận

Nơi cư trú: 2/7/5 H, tổ I, khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H1 và bà Lê Thị Kim T; có vợ tên Nguyễn Thị Hồng Q; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân:

  • - Ngày 19/6/2007 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xoá án tích.
  • - Ngày 26/6/2014 bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 01 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt buộc H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 08 năm tù, tại Bản án số 46/2014/HSST.
  • - Ngày 15/9/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 138/2015/HSST, tổng hợp hình phạt 08 năm tù tại Bản án số 46/2014/HSST ngày 26/6/2014 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, buộc H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 09 năm tù. H chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/01/2020, đã xoá án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1988 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 4/2023, Mai Trọng H là nhân viên tại cửa hàng bán mỹ phẩm do bà Đỗ Thị T1 làm chủ. H được bà T1 giao nhiệm vụ quản lý, sử dụng tài khoản bán hàng của T1 trên trang điện tử https://khachhang.ghn.vn/ của Công ty Cổ phần D. Tài khoản bán hàng này được bà T1 cài đặt tài khoản ngân hàng S mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 của T1 để nhận tiền thu hộ của khách hàng (COD) từ Công ty Cổ phần D. Trong quá trình sử dụng tài khoản, H phát hiện có thể thay đổi tài khoản nhận tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bán hàng của T1.

Vào tháng 9/2023, H có nhặt được 01 Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1990, trú tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận và cất giữ. Đến ngày 27/9/2023, do có ý định chiếm đoạt số tiền thu hộ của bà T1 nên H dùng ảnh của mình dán lên Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Mỹ P rồi dùng Giấy chứng minh nhân dân này mở tài khoản trực tuyến trên trang thông tin điện tử của Ngân hàng thương mại cổ phần V với số tài khoản 0792324543 mang tên Nguyễn Thị Mỹ P.

Do nếu thay đổi bất kỳ thông tin nào trong tài khoản bán hàng (bao gồm cả tài khoản ngân hàng nhận tiền thu hộ) thì cần phải có mã xác thực sử dụng một lần (gọi là mã OTP) từ Công ty Cổ phần D hàng nhanh gửi về số điện thoại của chủ tài khoản là bà T1 nên ngày 29/9/2023, H nhắn tin qua ứng dụng Zalo của bà T1 nói tài khoản bán hàng bị lỗi nên H sẽ chỉnh sửa thông tin trong tài khoản, khi hệ thống của Công ty Cổ phần D hàng nhanh nhắn mã OTP để xác thực thay đổi thông tin trên tài khoản bán hàng thì bà T1 gửi cho H để H điều chỉnh lỗi thì bà T1 đồng ý. H tiến hành thay đổi thông tin tài khoản nhận tiền thu hộ từ tài khoản số 0828077099 - Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 của bà T1 sang tài khoản số 0792324543 - Ngân hàng thương mại cổ phần V1 mang tên Nguyễn Thị Mỹ P mà H đã đăng ký vào ngày 27/9/2023. Đến khoảng 15 giờ 52 phút cùng ngày 29/9/2023, bà T1 nhận được mã OTP số “411623” do hệ thống Công ty Cổ phần dịch vụ Giao hàng nhanh gửi đến số điện thoại 0828.077.xxx của bà T1, bà T1 gửi mã OTP này qua tài khoản Zalo cho H, H sử dụng mã xác nhận này để hoàn thành việc thay đổi tài khoản nhận tiền thu hộ. Đến ngày 02/10/2023, Công ty Cổ phần D đã chuyển số tiền 33.045.038 đồng thu hộ từ khách

của bà T1 là vào tài khoản số 0792324543 mở tại Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Mỹ P.

Sau khi nhận được tiền, H chuyển số tiền 23.120.000 đồng vào tài khoản số 33030219959999 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 của bà Nguyễn Thị Hồng Q (là bạn gái của H, trước đó Q cho H mượn tài khoản này để sử dụng). H dùng thẻ ngân hàng số A60U9H3 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 có liên kết với tài khoản số 33030219959999 của bà Q để rút hết số tiền 23.120.000 đồng tại buồng ATM ở tòa nhà V (thuộc khu phố F, phường P, thành phố P) và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Đối với số tiền còn lại trong tài khoản 0792324543 của Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Mỹ P, H chuyển 9.900.000 đồng cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân) tại trước toà nhà V2 nêu trên, người phụ nữ này trả thêm cho H 100.000 đồng tiền phí, tổng cộng H nhận 10.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền 25.038 đồng còn lại H sử dụng để thanh toán các dịch vụ trực tuyến (không nhớ rõ dịch vụ nào) và trừ vào phí chuyển các lần tiền nêu trên hết.

Đến khoảng 20 giờ ngày 03/10/2023, bà T1 kiểm tra tài khoản số 0828077099 của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 mang tên Đỗ Thị T1 thì không thấy số tiền hàng thu hộ 33.045.038 đồng được chuyển vào, khi kiểm tra trên thư điện tử, bà T1 phát hiện có tài khoản 0792324543 của Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Mỹ P đã nhận số tiền trên. Nghi ngờ H đã thực hiện thay đổi tài khoản chiếm đoạt tiền của mình nên bà T1 đã nhắn tin, gọi điện cho H nhưng H chặn các phương thức liên lạc. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày 03/10/2023, bà T1 đã đến Công an xã P trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận, Công an xã P chuyển nguồn tin về tội phạm đến Công an phường P nơi H thường trú để giải quyết. Quá trình làm việc tại Công an phường P, H đã thừa nhận hành vi chiếm đoạt tiền của bà T1 như nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- Tạm giữ từ Mai Trọng H:

  • + 01 thẻ Ngân hàng thương mại cổ phần N số 97043686 01812839106, thẻ màu xanh xám;
  • + 01 thẻ Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số A60U9H3, thẻ màu hồng;
  • + 01 máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, hiệu VGN – FW390, số Seri 3117354, kèm theo 01 pin gắn liền với máy;
  • + 01 sạc máy tính xách tay hiệu Sony, số S 1479114610559746.

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã chuyển các vật chứng trên đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 99/CT-VKSPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Mai Trọng H về tội “Sử dụng mạng

máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Trọng H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” với mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ Ngân hàng thương mại cổ phần N1 số 97043686 01812839106, thẻ màu xanh xám và 01 thẻ Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số A60U9H3, thẻ màu hồng; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, hiệu VGN – FW390, số Seri 3117354, kèm theo 01 pin gắn liền với máy và 01 sạc máy tính xách tay hiệu Sony, số S 1479114610559746.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Mai Trọng H là người được bà Đỗ Thị T1 giao quản lý tài khoản bán hàng trên trang điện tử https://khachhang.ghn.vn/ của Công ty Cổ phần D. Do có ý định chiếm đoạt tiền thu hộ từ khách hàng do Công ty Cổ phần D hàng nhanh chuyển cho bà T1 nên vào khoảng 15 giờ 52 phút ngày 29/9/2023, H đã nói dối để bà T1 cung cấp mã xác thực OTP để thay đổi tài khoản nhận tiền thu hộ từ tài khoản số 0828077099 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 mang tên Đỗ Thị T1 sang tài khoản số 0792324543 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần V mang tên Nguyễn Thị Mỹ P của H. Đến ngày 02/10/2023, Công ty Cổ phần D hàng nhanh chuyển số tiền thu hộ là

35.045.038 đồng đến tài khoản Nguyễn Thị Mỹ P thì H rút hết số tiền này sử dụng cá nhân hết.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Mai Trọng H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện lao động để tạo ra vật chất nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, do đó bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo trước đây đã nhiều lần bị xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cướp tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, sau khi chấp hành án xong không rèn luyện, tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn tác động xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hợp lý.

[6] Về dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với 01 thẻ Ngân hàng thương mại cổ phần N số 97043686 01812839106, thẻ màu xanh xám và 01 thẻ Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số A60U9H3, thẻ

màu hồng là công cụ bị cáo dùng để phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, hiệu VGN – FW390, số Seri 3117354, kèm theo 01 pin gắn liền với máy và 01 sạc máy tính xách tay hiệu Sony, số S 1479114610559746 công cụ bị cáo dùng để phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Đối với bà Nguyễn Thị Hồng Q cho Mai Trọng H mượn tài khoản số 33030219959999 và thẻ ngân hàng số A60U9H3 của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 trước khi H phạm tội, bà Q không biết mục đích, không giúp sức cho H chiếm đoạt tài sản của bà Đỗ Thị T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không xử lý hình sự đối với bà Q là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Nguyễn Thị Mỹ P, quá trình điều tra xác định bà P không không biết H sử dụng Giấy chứng minh nhân dân bị rơi mất của bà P để đăng ký tài khoản ngân hàng số 0792324543 của Ngân hàng thương mại cổ phần V nhằm mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P không xử lý hình sự đối với bà P là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 290; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Mai Trọng H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mai Trọng H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ Ngân hàng số: 97043686 01812839106 mang tên: MAI TRONG HIEU; thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần N và 01 (một) thẻ Ngân hàng có số Seri: A60U9H3 thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, hiệu VGN – FW390, số Seri 3117354, kèm theo 01 pin gắn liền máy và 01 (một) sạc máy tính xách tay hiệu Sony, số S: *1479114610559746*.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 168 ngày 23 tháng 8 năm 2024).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Mai Trọng H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/9/2024). Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm về tội "sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản"

  • Số bản án: 218/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger