Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 218/2024/HS-ST

Ngày: 24-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Bà Nguyễn Thị Thuỷ
    2. Bà Thân Thị Tuyết Nhung
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Đĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 24/10/2024, tại điểm cầu trực tuyến Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 206/2024/HSST ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST – HS ngày 11/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Trường L, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Số nhà D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Số nhà B, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 7/12; Bố: Đỗ Văn L1, sinh năm 1970; Mẹ: Đặng Thị T, sinh năm 1975; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1994 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 153 ngày 28/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/6/2021, chưa chấp hành xong bồi thường dân sự và án phí.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Ngày 12/12/2005, bị Chủ tịch UBND thành phố B quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G thời hạn 24 tháng.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 24 ngày 26/02/2009 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi, đã chấp hành xong bản án được xoá án tích.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 98 ngày 14/7/2009 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24 ngày 26/02/2009 buộc L phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 01 năm 03 tháng tù; đã chấp hành xong bản án được xoá án tích.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 25 ngày 23/3/2017 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong bản án được xoá án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên toà.

  • * Bị hại: Cháu Ngô Trí Hoàng L2, sinh năm 2008 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  • Đại diện hợp pháp cho cháu L2: Chị Đinh Thị L3, sinh năm 1980 (là mẹ đẻ)
  • Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Lê Quang T1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
    2. Địa chỉ: Số nhà C, đường B, tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
    3. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1975 (Có mặt)
    4. Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • * Người làm chứng: Anh Ngô Văn H1, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số nhà B, đường M, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 18/8/2024, Đỗ Trường L, sinh năm 1992, trú tại số nhà B, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang ngồi uống bia một mình ở khu vực Chợ T. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày sau khi uống bia xong, L đi về nhà và nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và trả tiền uống bia trước đó. L đi bộ trên các tuyến đường trong thành phố B mục đích xem có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi L đi đến số nhà G, đường T, phường T, thành phố B thì nhìn thấy có 01 chiếc xe máy điện màu nâu, nhãn hiệu YEDEA để trên vỉa hè nên nảy sinh ý định trộm cắp. Chiếc xe này là của anh Ngô Trí Hoàng L2, sinh ngày 14/5/2008, trú tại số nhà A đường T, phường M, thành phố B để tại đó để đi học thêm (xe có số máy HFT12ZW6053315 YECKVP600303Y; số khung RL9YAEKCMPCPA0524 đăng ký mang tên Ngô Trí Hoàng L2). Quan sát xung quanh không có người trông coi, Đỗ Trường L đi đến dùng 2 tay dắt chiếc xe máy điện đi ra ngoài đường qua ngõ A, đường N rồi rẽ vào đường V. Sau đó, L dắt chiếc xe này đến nhà anh Lê Quang T1, sinh năm 1992 là người quen của L ở đường B, phường L, thành phố B. L nói dối anh T1 là xe của L nhưng bị mất chìa khoá. L đặt vấn đề với anh T1 cho vay 500.000 đồng và để lại chiếc xe máy điện để làm tin. Anh T1 đồng ý và đưa cho L vay 500.000 đồng. Sau đó, L đã sử dụng trả tiền uống bia hết số tiền trên.

Ngày 18/8/2024, anh Ngô Trí Hoàng L2 có đơn trình báo bị mất 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu YEDEA màu nâu, biển số 98MĐ1-176.96. Ngày 19/8/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Đỗ Trường L làm việc thì L đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe máy điện nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 204/KL-HĐĐG ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

01 xe máy điện đã qua sử dụng, nhãn hiệu YEDEA màu nâu, biển số đăng ký 98MĐ1-176.96, mua mới ngày 01/7/2023 có giá trị tại thời điểm định giá ngày 18/8/2024 là 11.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 210/CT - VKS ngày 09/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Trường L ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Đỗ Trường L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, anh L đã nhận lại xe, anh T1 đã nhận số tiền 500.000 đồng mẹ bị cáo trả thay cho bị cáo, đến nay không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên bị cáo không có ý kiến gì.

Bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai đó.

Bà Đặng Thị T xác định bị cáo L đã bảo bà trả cho anh T1 số tiền 500.000 đồng. Số tiền này là của cá nhân bà, đến nay bà không yêu cầu bị cáo L phải trả bà số tiền trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Đỗ Trường L từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ này bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/8/2024.
  • Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: Anh L đã được nhận lại xe máy điện. Anh T1 đã được trả lại số tiền 500.000 đồng. Đến nay anh L, anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
  • Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan, người làm chứng: Tại phiên tòa bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ và xét thấy việc vắng mặt họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại là có căn cứ.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đỗ Trường L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 18/8/2024, Đỗ Trường L trộm cắp chiếc xe đạp điện nhãn hiệu YEDEA biển số 98MĐ1-176.96 trị giá 11.000.000 đồng của anh Ngô Trí Hoàng L2 để trên vỉa hè đường T, phường T, thành phố B sau đó đem đi gửi tại nhà anh Lê Quang T1 ở đường B, phường L, thành phố B vay 500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe máy điện và trả lại cho người bị hại.

[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Trường L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo 01 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 11.000.000 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử hình sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động người nhà bồi thường, khắc phục hậu quả. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện ra đầu thú, có ông bà ngoại và ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử hình sự về các tội “Trộm cắp tài sản” “Cố ý gây thương tích” “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Anh L đã được nhận lại xe máy điện. Anh T1 đã được trả lại số tiền 500.000 đồng. Đến nay anh L, anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

[11] Đối với anh Lê Quang T1 cho Đỗ Trường L gửi chiếc xe máy điện nhưng không biết là tài sản do L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[12] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

  1. Xử phạt bị cáo Đỗ Trường L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/8/2024.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang(1b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4 b);
  • - Lưu HS.VP (1b);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.
  • - UBND phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • - Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người liên quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 218/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trường L phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger