|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 218/2024/HS-ST Ngày : 02/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Vũ Trung Kiên
- 2/ Bà Lâm Thị Thanh Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp . tham gia phiên tòa tại điểm cầu Thành phần nhà tạm giữ Công an quận T: Ông Phạm Xuân C1 - Kiểm sát viên
Đại diện Nhà tạm giữ Công an quận T dẫn giải bị cáo đến tham gia phiên tòa tại điểm cầu Thành phần nhà tạm giữ Công an quận T:
Ông Tăng Bảo Q – Phó đội trưởng Đội cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T
Ông Nguyễn Kiến Q1 – Cán bộ Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T
Ông Nguyễn Phúc Quốc X – Cán bộ Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T
Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình và điểm cầu Thành phần nhà tạm giữ Công an quận T xét xử sơ thẩm bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 237/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: LÊ ĐỨC H; sinh năm 1963 tại Đà Nẵng; hộ khẩu thường trú: 5 L, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: xe ôm; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T (đã chết) và bà: Vũ Thị B (đã chết); vợ, con: Không; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 24/5/1979 bị Công an quận P bắt đi cưỡng bức lao động về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/6/1989, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 668/HSPT. Qua xác minh tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, không có thông tin về việc thi hành án dân sự của Lê Đức H đối với bản án này; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 35 phút ngày 28/02/2024, Lê Đức H đứng trước nhà số D P, Phường A, quận T để giao ma túy cho khách thì bị Tổ tuần tra Công an P, quận T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên baga xe máy biển số 53R1-5490, 01 túi nylon bên trong có 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 gói nylon màu vàng có chữ “Happy Day” bên trong có chứa ma túy đá. Qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5300 gam, loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 3004/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an Thành phố H).
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T, Lê Đức H khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 28/02/2024, H đang ở nhà tại địa chỉ 4 L, P, quận G thì V (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại cho H (V sử dụng thuê bao số 0931554871, H sử dụng thuê bao số 0773153267) thuê H đi giao hàng, Hòa đồng Ý và điều khiển xe máy biển số 53R1-5490 đến địa chỉ B N, Phường I, quận G gặp V. Tại đây, V đưa cho H 01 túi nylon màu đen kêu H đi giao cho khách của V tại địa chỉ D P, Phường A, quận T, đến nơi khác đưa 100.000 đồng tiền xe thì lấy, nếu khách không đưa tiền thì V sẽ trả tiền, sau đó, V nhắn tin số điện thoại của khách cho H (H chỉ nhớ 3 số cuối là 443). Lúc này, H hỏi V giao đồ gì thì V không nói nên H mở túi nylon màu đen ra xem thấy bên trong có 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 gói nylon màu vàng bên ngoài có chữ “Happy day” được dán kín 02 đầu. H dùng tay kiểm tra gói nylon màu vàng này và hỏi V có phải bên trong chứa ma túy đá hay không thì V trả lời “Ừ”. H nghĩ số lượng ma túy đá không nhiều nên đồng ý đi giao ma túy đá cho V. H cất giấu 01 túi nylon màu đen nhận từ V vào giỏ xách màu trắng của H để trên baga xe điều khiển xe máy trên đi giao cho khách. Khi đến trước số D P, Phường A, quận T thì bị bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu trên.
Xác minh lai lịch của “V” sử dụng thuê bao số 0931554871, là người trực tiếp đưa ma túy cho H đi giao, kết quả xác minh được biết chủ thuê bao số 0931554871 là Lê Thị T1, chị T1 cho biết cho bạn trai là Lê Thiên Vũ M để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thu thập bản ảnh của Lê Thiên V cho H nhận dạng, tuy nhiên đối tượng Lê Thiên V không phải là đối tượng “V” giao ma túy cho H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã tách ra thành một tin báo riêng để tiếp tục điều tra làm rõ đồng thời ra Quyết định truy tìm đối tượng Lê Thiên V.
Tại bản cáo trạng số 233/CT-VKS-TB ngày 24 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Lê Đức H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Đức H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lê Đức H, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Đức H trực tiếp thực hiện hành vi nhận ma túy của đối tượng “V” để đem bán cho khách của V tại địa chỉ D P, Phường A, quận T nhằm mục đích hưởng lợi thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 0,5300 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của Lê Đức H đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn mục đích tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về vật chứng vụ án:
- + 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Lê Đức H, Lê Mai Huy H1, Nguyễn Thanh Đ, bên trong có 01 gói nilong chứa tinh thể không màu, kết quả sau giám định là tinh thể rắn, có khối lượng 0,4776 gam loại Methamphetamine là ma túy tang vật còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 nỏ thủy tinh (bên trong không chứa gì) và 01 ống hút nhựa màu trắng (bên trong không chứa gì) là công cụ để sử dụng ma túy, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 xe máy nhãn hiệu Astrea biển số 53R1-5490, số máy NCE-1188076, số khung NC235-88728 (tình trạng xe đã qua sử dụng, chưa kiểm tra máy bên trong) kết quả xác minh chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Thành L, ông L đã chết nên không làm rõ được tình trạng chuyển quyền sở hữu đối với xe máy trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo truy tìm chủ sỡ hữu nhưng chưa có người liên hệ giải quyết. Do không xác định được người quản lý hợp pháp nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng một thời gian, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 (điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra máy bên trong) bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo: Lê Đức H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2024.
[2] Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Lê Đức H, Lê Mai Huy H1, Nguyễn Thanh Đ, bên trong có 01 gói nilong chứa tinh thể không màu, kết quả sau giám định là tinh thể rắn, có khối lượng 0,4776 gam loại Methamphetamine; 01 nỏ thủy tinh (bên trong không chứa gì) và 01 ống hút nhựa màu trắng (bên trong không chứa gì).
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 (điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra máy bên trong).
- + Giao 01 xe máy nhãn hiệu Astrea biển số 53R1-5490, số máy NCE-1188076, số khung NC235-88728 (tình trạng xe đã qua sử dụng, chưa kiểm tra máy bên trong) cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau một năm, nếu không xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 30/BB/2025 ngày 14/11/2024 của Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Quang Vũ |
Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 218/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
