|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 218/2024/HS-ST Ngày 26 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Đức
2. Ông Vũ Tiến Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 208/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 30/6/1987, tại Thái Bình;
Nơi cư trú: thôn N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V, đã chết và bà: Phạm Thị H, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Bản án số 62/2008/HSST ngày 29/5/2008 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Ngọc T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phí ngày 17/9/2008, chấp hành xong thời hạn thử thách ngày 29/5/2009;
- - Quyết định số 78/QĐ-CT ngày 04/01/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 31/12/2013;
- - Bản án số 224/2016/HSST ngày 20/12/2016 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Ngọc T 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong án phí ngày 21/02/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2018;
- - Quyết định số 19/2018/QĐ-TA ngày 05/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong 25/8/2019;
- - Quyết định số 08/2020/QĐ-TA ngày 10/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 11 tháng, chấp hành xong ngày 15/11/2021.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/8/2024 đến ngày 12/8/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến:
+ Anh Khiếu Văn C, sinh năm 1987
Trú tại: thôn X, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
+ Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1959
Trú tại: thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình(Anh C, ông T1 đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 06/8/2024, Nguyễn Ngọc T đi bộ từ nhà ra khu vực nhà văn hoá thôn P, xã P, thành phố T mua của một người phụ nữ khoảng 45 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cất gói ma tuý trên vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực đường Đ, thuộc thôn P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện. Tại đây trước sự chứng kiến của anh Khiếu Văn C và ông Bùi Văn T1, T đã tự nguyện lấy từ túi quần phía sau bên phải đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đây là gói heroine của T vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong gói ma túy trên và gửi đi giám định. Sau đó tổ công tác đưa T và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc Tự T2 thôn N, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Bản Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 10/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2826 gam (không phẩy hai nghìn tám trăm hai mươi sáu gam. Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc T cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Bản cáo trạng số 214/CT-VKSTPTB ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa
đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù; đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phat cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo : Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nôi dung Cao trang và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh T lập ngày 06/8/2024, tại trụ sở Công an xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình;
- - Bản Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 10/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
- Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày 06/8/2024, tại khu vực đường Đ, thuộc thôn P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép trong túi quần phía sau bên phải đang mặc 01 gói ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,2826 gam mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.
Vì vậy, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
- Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- Có tổ chức;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy : Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hôi, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tai đia phương. Mặc dù đông cơ pham tôi xuất phát từ việc nghiên chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy, đã từng bị kết án về tội phạm ma túy và tội phạm khác, từng nhiều lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc lọai tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu nên đây cũng là một trong những tình tiết để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét quá trình điều tra, truy tố và tai phiên tòa bị cáo đã khai báo trung thực toàn bô hanh vi pham tôi, do đó bị cao được hương tình tiết giam nhe trách nhiệm hình sự “ Người pham tôi thành khẩn khai báo” theo quy đinh tai điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đa phân tích trên thấy cần thiết phải áp dung hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như mức đề nghị của đai dịên Vịên kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không quyết tâm từ bỏ ma tuý, nhiều lần vi phạm pháp luật liên quan đến ma tuý nên cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Ngọc T khai mua của một người phụ nữ khoảng 45 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực nhà văn hoá thôn P, xã P, thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không đủ căn cứ để xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,2826 gam ma túy loại Heroine thu giữ của Nguyễn Ngọc T, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,2040 gam và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Ngọc T trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1202/KL-KTHS của phòng K - Công an tỉnh T. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ 06/8/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định: 0,2040 gam (không phẩy hai nghìn không trăm bốn mươi gam) heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1202/KL-KTHS của phòng K - Công an tỉnh T.
(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/10/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo Nguyễn Ngọc T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/11/2024)./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán– Chủ toạ phiên toà |
|
Lê Thị P |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phượng |
Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 218/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T
