Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2024/HS-ST

Ngày 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Ngọc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Ông Vũ Văn Thi

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Anh D, sinh ngày 23 tháng 5 năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị H; có vợ là Phạm Thị Phương A và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024; chuyển tạm giam ngày 17/4/2024, có mặt.

  2. Lê Văn H1, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị C; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 25/HSST ngày 10/4/1997, Tòa án nhân dân huyện An Hải xử phạt 03 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của côn dân (đã được xóa án tích); Bản án số 78/HSST ngày 12/7/2001, Tòa án nhân dân huyện An Hải xử phạt 36 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đã được xóa án tích).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024; chuyển tạm giam ngày 17/4/2024, có mặt.

  3. Phạm Văn H2, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị Dịu D1 và 01 con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 73 ngày 20/8/1998, Tòa án nhân dân huyện An Hải xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân (đã được xóa án tích).

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024; chuyển tạm giam ngày 17/4/2024, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 12 giờ ngày 09/4/2024, tổ công tác Công an xã H phát hiện, bắt quả tang Lê Văn H1 có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy tại trước cửa nhà H1 ở thôn H, xã H, huyện A. Vật chứng thu giữ trong tay trái của H1 01 túi nilon màu trắng kích thước 01x2,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT01), 01 xe mô tô biển kiểm soát 15C1-513.66, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s plus màu trắng. Tổ công tác đã đưa H1 cùng vật chứng về trụ sở và bàn giao cho Công an huyện A giải quyết.

Tại cơ quan Công an, H1 khai số ma túy trên là của H1 nhờ Phạm Văn H2 mua hộ với giá 300.000đồng, số tiền này là của Nguyễn Anh D đưa cho H1 để mua ma túy về cùng sử dụng. Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với D và H2. Vật chứng thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS màu vàng của D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 màu đỏ của H2.

Khám xét nơi ở của Lê Văn H1 và Nguyễn Anh D đều ở thôn H, xã H, huyện A và nơi ở của Phạm Văn H2 tại hôn Hoàng Lâu, xã H không thu giữ được gì liên quan đến ma túy.

Tại cơ quan Công an, H2 khai mua số ma túy trên của Nguyễn Quang K, sinh năm 1987, là người cùng thôn. Cơ quan điều tra đã khám xét nơi ở của K, thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước 01x2,5cm bên trong có tinh thể màu trắng bám dính (mẫu KX01); 01 ống hút nhựa màu trắng dài 11cm, đường kính 8mm, một đầu vót nhọn; 01 vỏ túi nilon viền cam kích thước 01x3,5cm; 02 vỏ túi nilon màu trắng viền xanh kích thước 02x2,5cm; 03 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 02x1,5cm; 01 đầu thu camera.

Tại Kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,43gam, là loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số 956/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng bám dính của mẫu KX01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Anh D và Phạm Văn H2 khai nhận: Khoảng hơn 11 giờ ngày 09/4/2024, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15C1-513.66 đến nhà H1 rủ mua ma túy đá về cùng sử dụng. D vay 300.000đồng của T1 (là người cho vay tiền trên ứng dụng iCloud, không rõ lai lịch) và cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng của H1 để T1 chuyển khoản 300.000đồng. Sau khi nhận tiền, H1 điều khiển xe mô tô của D đến nhà H2 nhờ mua hộ ma túy, H1 chuyển khoản 300.000đồng vào tài khoản Ngân hàng cho H2, H2 nhận tiền và đi đến nhà K mua 300.000đồng ma túy được 01 túi nilon màu trắng kích thước 01x2,5cm. Sau khi H1 nhận túi ma túy từ H2 đi về để cổng nhà thì bị Công an xã H bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại Cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Anh D, Lê Văn H1 và Phạm Văn H2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Anh D, Lê Văn H1 và Phạm Văn H2 khai nhận như nội dung cáo trạng đã nêu.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phân hóa vai trò của các bị cáo; giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh D, Lê Văn H1 và Phạm Văn H2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 (thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Anh D); Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D từ 18 tháng đến 21 tháng tù.

Xử phạt Lê Văn H1 từ 21 tháng đến 24 tháng tù.

Xử phạt Phạm Văn H2 từ 21 tháng đến 24 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong 02 bì giấy, dấu niêm phong số 438MT/PC09 và số 956MT/PC09; 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 11cm, đường kính 08mm, một đầu vát nhọn, 01 vỏ túi nilon viền cam, kích thước 1x3,5cm; 02 vỏ túi nilon màu trắng viền xanh, kích thước 2x2,5cm; 03 vỏ túi nilon, màu trắng, kích thước 2x1,5cm.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu trắng thu của Lê Văn H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 thu của Phạm Văn H2.

Khi nói lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là sai phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội, tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã H, huyện A lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, phù hợp với vật chứng thu giữ; Kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 12 tháng 4 năm 2024 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 09/4/2024, tại thôn H, xã H, huyện A, Hải Phòng, Nguyễn Anh D đã chuyển cho Lê Văn H1 300.000đồng để mua ma túy về cùng sử dụng. H1 lại chuyển khoản cho Phạm Văn H2 300.000đồng nhờ mua hộ ma túy. Khi H1 cầm túi ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,43gam do H2 mua hộ về đến gần cổng nhà thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Anh D, Lê Văn H1 và Phạm Văn H2 đã đồng phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phân hóa vai trò của các bị cáo:

  • [3.1] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, đây còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác, làm lan tràn nạn nghiện ngập và các loại bệnh xã hội, nhất là căn bệnh hiểm họa HIV/AIDS. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.
  • [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Anh D đã có ông ngoại là thương binh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • [3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • [3.4] Về vai trò của các bị cáo: Vụ án có đồng phạm, HĐXX phân hóa vai trò của các bị cáo như sau:

    Các bị cáo đều là người nghiện nên đã rủ nhau mua ma túy về để sử dụng, xác định vai trò đồng phạm của các bị cáo có tính chất giản đơn. Bị cáo Nguyễn Anh D là người trực tiếp chuyển tiền cho Lê Văn H1 để H1 đi mua ma túy, bị cáo Lê Văn H1 lại chuyển tiền cho Phạm Văn H2 nhờ H2 đi mua ma túy hộ. Bị cáo H2 là người trực tiếp đi mua ma túy và bị cáo Lê Văn H1 là người trực tiếp quản lý ma túy nên xác định các bị cáo có vai trò ngang nhau.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất hành vi vi phạm của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lê Văn H1 và bị cáo Phạm Văn H2 nhân thân đều đã có tiền án, tuy đã được xóa song các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo không tốt. Đối với bị cáo Nguyễn Anh D, tuy nhân thân chưa có tiền án, tiền sự song bị cáo là người chủ động chuyển tiền cho H1 để đi mua ma túy về sử dụng. Do vậy cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5] Về các vấn đề khác:

  • [5.1] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều là đối tượng nghiện, không có công việc ổn định, hành vi tàng trữ tái phép chất ma túy của các bị cáo không có tính chất trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • [5.2] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 15C1-513.66, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị Phương A (vợ của D) là chủ sở hữu hợp pháp. 01 đầu thu camera Cơ quan điều tra đã trả cho ông Nguyễn Đức K1 (bố của K) là chủ sở hữu nên không xét.

    Số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói mẫu vật gửi giám định là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy. 01 ống hút nhựa, màu trắng, 01 vỏ túi nilon viền cam; 02 vỏ túi nilon màu trắng viền xanh; 03 vỏ túi nilon màu trắng là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus thu của Lê Văn H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 màu đỏ thu của Phạm Văn H2 được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

  • [5.3] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa H2 và K, K thừa nhận ngày 09/4/2024, H2 có đến nhà K chơi do có mối quan hệ bạn bè nhưng không nhận đã bán ma túy cho H2. Kiểm tra dữ liệu camera tại khu vực nhà của K không ghi nhận việc mua bán ma túy. Khám xét nhà của K không thu giữ được gì liên quan đến việc mua bán ma túy. Những vật dụng thu giữ tại nhà, K khai dùng để sử dụng ma túy, nhân thân K chưa có tiền án, tiền sự nên Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tiếp tục xác minh, làm rõ có căn cứ xử lý sau. Đối với đối tượng T1, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ có căn cứ xử lý sau.
  • [5.4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh D, Lê Văn H1 và Phạm Văn H2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H2 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói mẫu vật gửi giám định được niêm phong lại trong phong bì có dấu niêm phong số 438MT/PC09 và số 956MT/PC09; 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 11cm, đường kính 08mm, một đầu vát nhọn, 01 vỏ túi nilon viền cam, kích thước 1x3,5cm; 02 vỏ túi nilon màu trắng viền xanh, kích thước 2x2,5cm; 03 vỏ túi nilon, màu trắng, kích thước 2x1,5cm.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus thu của Lê Văn H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 màu đỏ thu của Phạm Văn H2.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện An Dương;
  • - Công an huyện An Dương;
  • - Phòng PV 06; Phòng PC 10; Sở Tư pháp HP;
  • - Chi cục Thi hành án huyện An Dương;
  • - Trại tạm giam - Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Thư Bùi Thị Nhàn Lê Ngọc Phương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 218/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger