Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 218/2024/HS-ST

Ngày: 08-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Ông Nguyễn Văn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Khổng Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 236/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn N, sinh năm 1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 159 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; hoàn cảnh gia đình: có vợ Nguyễn Thị Tuyết N1 và 01 con sinh năm 2015; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 08/6/2007, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 05/01/2009, đã đóng án phí; ngày 28/10/2010, bị Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 03/01/2014, đã đóng án phí; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2024 – Có mặt

- Bị hại: Anh Trần Ngọc Anh Q, sinh năm: 1975

Địa chỉ: 1 đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 13/7/2024, anh Trần Ngọc A Q đến quán cơm H do ông Trần Hữu D làm chủ tại địa chỉ A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để ăn trưa, anh Q ngồi hướng mặt ra ngoài, ở bàn thứ 2 bên trái từ cửa nhìn vào trong quán. Quá trình ăn cơm, anh Q có để 01 túi đeo chéo màu đen trên ghế nhựa sát tường bên tay phải của anh Q, bên trong có 01 cọc tiền trị giá 31.500.000 đồng. Sau khi ăn cơm xong, anh Q ra về và bỏ quên túi đeo chéo màu đen tại quán. Sau đó, chị Đặng Thị H1 là nhân viên của quán cơm nhìn thấy túi đéo chéo màu đen của anh Q bỏ quên, nên báo cho ông Trần Hữu D có khách để quên 01 túi đeo chéo, lúc này anh D nhắc chị H1 trông coi túi của khách, đợi khách quay lại lấy. Nhưng do khách đông nên chị H1 chưa kịp cất túi đeo chéo trên.

Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, Võ Văn N điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario, biển số 59L3-117.47 đến quán C tại địa chỉ A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để ăn cơm trưa, N ngồi tại vị trí anh Q đã ăn cơm trước đó. Khi N đang ăn cơm thì nhìn sang bên tay phải của N, thấy 01 túi đeo chéo màu đen để ở trên ghế nhựa sát tường của anh Trần Ngọc A Q để quên trước đó. Quan sát không có ai để ý, N đã dùng tay phải mở khóa túi đeo chéo, lấy 01 cọc tiền bên trong túi, bỏ vào túi quần phía trước bên phải của N. Sau đó, N thanh toán tiền cơm, rồi điều khiển xe gắn máy quay lại chỗ làm và kiểm tra số tiền là 31.500.000 đồng.

Sau khi Võ Văn N rời khỏi quán, cháu Châu Ngọc U (sinh ngày 15/11/2013) là cháu ngoại của ông Trần Hữu D, đem túi đeo chéo màu đen anh Q bỏ quên nói với ông D thì ông D bảo cháu U đem tới chân cầu thang để cất. Khoảng 12 giờ 55 phút, cùng ngày anh Trần Ngọc A Q quay lại quán tìm túi đeo chéo thì được ông Trần Hữu D chỉ tới chân cầu thang để lấy. Khi kiểm tra tài sản thì anh Q phát hiện mất cọc tiền 31.500.000 đồng, nên anh Q đã đến Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để trình báo vụ việc.

Làm việc với ông Trần Hữu D được biết trường hợp khách để quên tài sản tại quán cơm thì ông D và nhân viên của quán sẽ đem cất. Khi khách đến tìm lại thì trả lại cho khách. Ông D là chủ quán có trách nhiệm quản lý, bảo quản các tài sản này, khi xảy ra mất tài sản thì quán sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho khách.

Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đưa Võ Văn N về trụ sở để làm việc. Võ Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên và giao nộp số tiền trộm cắp được là 31.500.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ:

- Số tiền Việt Nam trị giá 31.500.000 đồng, là số tiền Võ Văn N trộm cắp. Ngày 06/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại số tiền trên cho anh Trần Ngọc A Q (Bút lục số 33).

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu bạc đen, biển số 59L3-117.47, số khung: MH1KF4126LK013420, số máy: KF41E2017519, đã qua sử dụng. Qua xác minh được biết xe gắn máy trên do anh Lý Nhật M, sinh năm 1996, thường trú tại số A P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Anh M1 trình bày vào ngày 14/12/2023 anh M1 đã làm hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C1 để bán xe cho Võ Văn N với giá 48.000.000 đồng. Hiện nay, anh M1 không có yêu cầu gì đối với xe gắn máy trên (Bút lục số 65).

- 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần jeans màu đen, 01 đôi dép màu trắng, đã qua sử dụng.

Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 238/PNK ngày 04/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T (Bút lục số 35).

* Về phần dân sự: Anh Trần Ngọc Anh Q đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm

Tại Bản cáo trạng số: 255/CT-VKSQTP ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Văn N tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50; Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 13/7/2024, Võ Văn N đã có hành vi trộm cắp số tiền 31.500.000 đồng của anh Trần Ngọc A Q để quên tại quán cơm H do ông Trần Hữu D là chủ, tại địa chỉ A T, phường T, quận T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền trộm cắp khắc phục hậu quả cho người bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Võ Văn N

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Số tiền Việt Nam trị giá 31.500.000 đồng, là số tiền Võ Văn N trộm cắp. Ngày 06/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại số tiền trên cho anh Trần Ngọc A Q. Do đó Hội đồng xét xử không xét

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu bạc đen, biển số 59L3-117.47, số khung: MH1KF4126LK013420, số máy: KF41E2017519, đã qua sử dụng. Qua xác minh được biết xe gắn máy trên do anh Lý Nhật M, sinh năm 1996, thường trú tại số A P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Anh M1 trình bày vào ngày 14/12/2023 anh M1 đã làm hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C1 để bán xe cho Võ Văn N với giá 48.000.000 đồng. Hiện nay, anh M1 không có yêu cầu gì đối với xe gắn máy trên. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo.

- 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần jeans màu đen, 01 đôi dép màu trắng, đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Văn N 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả cho bị cáo: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu bạc đen, biển số 59L3-117.47, số khung: MH1KF4126LK013420, số máy: KF41E2017519, đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần jeans màu đen, 01 đôi dép màu trắng, đã qua sử dụng

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số: 238/PNK ngày 04/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T)

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh(1);
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (2);
  • - Phòng PC53 CА Тр. HCM (1);
  • - Nhà tạm giữ (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (17)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ/THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 218/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn N phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger