Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số:218/2024/HSST

Ngày: 31-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ánh Tuyết và bà Lê Thị Toan
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 216/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

ĐẶNG THẾ D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 24-3-1995 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thái H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1973; bị cáo có vợ là Lê Thị N, sinh năm 1995; bị cáo có 01 người con, sinh năm 2020; Hiện vợ và con của bị cáo trú tại: D S, Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Đặng Thế D bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  • Anh Nguyễn Đăng H2, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Bà Lê Thúy T, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • Anh Nguyễn Đình H3, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
  2. Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:

    Đặng Thế D là người đã được cấp giấy phép lái xe hạng D theo quy định; D lái xe thuê cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn K (viết tắt là Công ty K1, trụ sở tại số G P, phường Y, TP., Gia Lai). Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 21/10/2023, D điều khiển xe ô tô biển số 81C-150.40 (loại xe ô tô tải tự đổ, tải trọng 4,9 tấn) lưu thông trên đường P, TP . theo hướng từ phường H đi phường Đ, với tốc độ khoảng 40km/h (theo lời khai của D). Khi gần đến ngã ba đường P và đường V (thuộc Tổ A, phường T, TP .), D giảm tốc độ xe ô tô 81C-150.40, bật đèn tín hiệu bên trái và điều khiển xe đi sang phần đường trái của đường Phạm Văn Đ để rẽ vào đường V. Cùng lúc này, trên đường P theo hướng ngược lại có xe mô tô biển số 81B2-443.66 do anh Nguyễn Đăng H2 (sinh năm 2005, trú thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai) điều khiển, cũng đang lưu thông vào ngã ba với tốc độ nhanh (không xác định được chính xác vận tốc). Khi bắt đầu rẽ sang phần đường trái, D quan sát thấy anh H2 và xe mô tô 81B2-443.66 đang đi ngược chiều đến, D bấm còi để cảnh báo nhưng không dừng lại để nhường đường, mà vẫn giữ nguyên tốc độ, tiếp tục điều khiển xe ô tô 81C-150.40 đi sang phần đường trái của đường Phạm Văn Đ theo hướng lưu thông, để rẽ vào đường V. Lúc này khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đầu xe ô tô 81C-150.40 đi gần đến mép đường trái của đường Phạm Văn Đ theo hướng lưu thông, thì xe mô tô 81B2-443.66 do anh H2 điều khiển đi đến tông mạnh vào thanh kim loại ốp phía dưới giữa, bên phải của xe ô tô 81C-150.40. Anh H2 và xe mô tô 81B2-443.66 ngã nằm trên mặt đường Phạm Văn Đồng ngay tại vị trí va chạm, còn xe ô tô 81C-150.40 chạy thêm một đoạn hơn 12 mét vào đường V thì dừng lại. D xuống xe đến kiểm tra thì thấy anh H2 bị thương nặng, nên đưa anh H2 vào Bệnh viện Q cấp cứu, điều trị. Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Pleiku đã tổ chức khám nghiệm hiện trường theo quy định, tạm giữ xe ô tô 81C-150.40 và xe mô tô 81B2-443.66 để xử lý. Lực lượng Cảnh sát giao thông Công an T3 tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm ma tuý đối với D, thì xác định trong khí thở của D không có nồng độ cồn và D âm tính với chất ma tuý.

    Đối với anh Nguyễn Đăng H2, điều trị thương tích tại Bệnh viện Q đến ngày 13/12/2023 thì được gia đình đưa đến Bệnh viện C, TP . Hồ Chí Minh tiếp tục điều trị. Ngày 23/12/2023, anh H2 xuất viện.

    Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thế D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

    Các vấn đề khác:

    Qua trưng cầu giám định, tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 73/KLTTCT-TTPY ngày 11/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh G, kết luận anh H2 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 81% (tám mươi mốt phần trăm).

    Qua khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, xác định:

    Điều kiện về thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Trời nắng, ánh sáng tự nhiên, mặt đường nhựa khô ráo. Hiện trường bị xáo trộn một phần do cấp cứu người bị nạn, lưu lượng phương tiện di chuyển trên hiện trường ảnh hưởng đến dấu vết.

    Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là khu vực ngã ba đường P với V. Đường Phạm Văn Đ là đường đôi, phần đường từ ngã tư Y về ngã ba Hoa Lư rộng 10,50m chia thành 03 làn đường xe chạy bằng vạch sơn trắng đứt quãng ở giữa. Đường Vạn Kiếp rộng 11,50m là đường hai chiều rải nhựa bằng phẳng, chia đường thành 02 chiều xe chạy bằng vạch sơn đứt quãng ở giữa tim đường. Đoạn đường có biển báo hiệu cấm xe tải 5 tấn và xe khách trên 16 chỗ ngồi.

    Lấy trụ điện số 190 làm điểm mốc cố định và mép đường bên phải đường Phạm Văn Đ hướng từ Y về H làm mép chuẩn để đo các dấu vết vào mép đường.

    Tại hiện trường phát hiện vết cày ký hiệu (1) có diện (1,40 x 0,12)m, chiều từ ngã tư Y đi ngã ba Hoa Lư. Điểm đầu (1) cách mép chuẩn 5,85m, điểm cuối (1) trùng với tâm trục bánh sau xe mô tô 81B2-443.66 và cách mép chuẩn là 5,70m.

    Xe mô tô 81B2-443.66 ký hiệu là (2) có tâm trục bánh sau xe cách mép chuẩn là 5,70m. T1 trục bánh trước xe mô tô 81B2-443.66 cách mép chuẩn 5,40m. Xe mô tô 81B2-443.66 nằm ngả nghiêng bên phải, có đầu xe hướng về phía ngã ba Hoa Lư.

    Tại hiện trường có vết cày ký hiệu là (3) diện (0,98 x 0,57)m, điểm đầu (3) cách mép chuẩn 5,90m. Vết cày (3) hướng chếch về ngã tư Y, có điểm cuối trùng với gác để chân bên phải phía trước cách mép chuẩn 5,60m.

    Cách tâm trục bánh trước xe mô tô 81B2-443.66 14,60m về phía đường V phát hiện xe ô tô 81C-150.40 ký hiệu là (4) có đầu xe hướng về đường L. T1 trục bánh sau bên phải xe cách mép chuẩn 7,20m; tâm trục bánh sau bên trái xe cách mép chuẩn 8,10m. Cách tâm trục bánh sau xe mô tô 81B2-443.66 2,35m về phía đường V phát hiện vết máu ký hiệu là (5) có diện (1,52 x 0,31)m. T1 vết (5) cách mép chuẩn 2,90m. Cách tâm vết (5) 0,95m về phía ngã ba Hoa Lư và cách tâm trục bánh trước xe mô tô 81B2-443.66 2,50m về phía đường V phát hiện vết cày ký hiệu (6) có diện (4,90 x 0,48)m, chiều từ đường V đi L. Vết cày xạc cao su có điểm đầu cách mép chuẩn 3,10m, điểm cuối (6) cách mép chuẩn 0,90m. T1 trục bánh trước xe mô tô 81B2-443.66 cách trụ điện số 190 làm điểm mốc cố định là 8,10m.

    Qua khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe mô tô 81B2-443.66, xác định:

    Xe mô tô biển số 81B2-443.66 nhãn hiệu Honda Future, số máy JC76E0301679, số khung 7635JZ000711. Độ rộng tay lái 56cm, cao 1 m, chiều dài xe 1,85m.

    Tại vị trí mặt trên ốp nhựa bảo vệ đầu xe bị bung nhựa, móp nhựa khởi vị trí lắp ráp trong diện (24 x 9)cm. Tại vị trí phía sau bên trái ốp nhựa bảo vệ cổ xe bị nứt vỡ trong diện (15 x 15)cm để lộ các bộ phận bên trong ra ngoài. Tay cầm bên trái bị cong vênh chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên. Ốp nhựa bảo vệ đèn xinhan bên trái bị nứt vỡ nhựa, bung khỏi vị trí lắp sáng diện (27 x 20)cm để lộ các chi tiết ra ngoài. Dè chắn bùn phía trước bị cong vênh chiều hướng từ trái sang phải. Ốp nhựa bảo vệ đầu xe phía trước bên phải có vết trầy xước nhựa, vỡ nhựa diện (51x 28)cm. 02 phuộc nhún phía bánh trước bị cong vênh từ trước ra sau làm bánh trước áp sát vào lốc máy; phuộc nhún bên phải có vết trầy xước kim loại trong diện (5 x 3)cm. 02 gương chiếu hậu bên trái phải bị cong vênh, vỡ mặt kính. Tại vị trí gác để chân phía trước bên phải bị cong vênh chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, lớp cao su bị mài mòn diện (2,5 x 2,5)cm.

    Về kỹ thuật an toàn: Hệ thống hãm có hiệu lực. Xe bị hư hỏng, hệ thống điện hư hỏng không khởi động được.

    Qua khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe ô tô 81C-150.40, xác định:

    Xe ô tô biển số 81C-150.40 màu sơn xanh, số khung 650DH2200104, số máy 1BNH17001749 có 02 thanh sắt bảo vệ bình hơi bên hông phải xe dài 1,15m, rộng 05cm, mỗi thanh cách nhau 13,5cm.

    Tại mặt ngoài vị trí 1/3 sau thanh kim loại bảo vệ bình hơi phía dưới có xết trầy xước kim loại, dính chất màu đỏ diện (5 x 3)cm (vết 1), cách vết (1) 2,5cm phía trên phát hiện dấu vết trầy xước kim loại diện (1 x 0,1)cm chiều hướng từ trên xuống dưới (vết 2). T1 02 vết cách nền 48 cm.

    Về kỹ thuật an toàn: Xe ô tô 81C-150.40 được kiểm định, giám định trên dây chuyền kiểm định tại Trung tâm đăng kiểm 8103D ngày 26/12/2023. Xe hoạt động bình thường, không bị hư hỏng đáng kể.

    Về giá trị thiệt hại: Qua định giá, xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 81B2-443.66 là 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng); xe ô tô 81C-150.40 bị thiệt hại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

    Đối với các phương tiện liên quan, qua điều tra xác định:

    • - Xe ô tô 81C-150.40 là tài sản của Công ty K1; sau khi khám nghiệm các dấu vết có liên quan đến tai nạn, Cơ quan điều tra đã xử lý trả xe cho ông Nguyễn Đình H3 (sinh năm 1989, trú Tổ A, phường T, TP .), là người được Công ty K1 uỷ quyền nhận tài sản.
    • - Xe mô tô biển số 81B2-443.66 là tài sản của bà Lê Thúy T2 (là mẹ của bị hại Nguyễn Đăng H2); sau khi khám nghiệm các dấu vết có liên quan đến tai nạn, Cơ quan điều tra đã xử lý trả xe cho bà T2.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận nêu trên.

  3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:
  4. Bản cáo trạng số: 231/CT-VKS ngày 18-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Đặng Thế D về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Thế D và đề nghị Hội đồng xét xử:

    Về hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Đặng Thế D phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Đặng Thế D với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án.

    Về án phí:

    Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

    Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Đặng Thế D phạm tội như sau:

Đặng Thế D là người đã được cấp giấy phép lái xe hạng D theo quy định. Khoảng 10 giờ ngày 21/10/2023, khi D điều khiển xe ô tô tải biển số 81C-150.40 lưu thông trên đường P, theo hướng phường H đi phường Đ, TP ., tỉnh Gia Lai và đang rẽ trái để đi vào đường V, thì xe mô tô 81B2-443.66 do Nguyễn Đăng H2 (sinh năm 2005, trú thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai) điều khiển lưu thông ngược chiều đi đến tông vào thân xe bên phải. Hậu quả, H2 bị thương nặng, tổn thương cơ thể 81% (tám mươi mốt phần trăm); xe mô tô 81B2-443.66 hư hỏng nặng, xe ô tô 81C-150.40 hư hỏng nhẹ.

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do Đặng Thế D điều khiển xe ô tô 81C-150.40 tham gia giao thông nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi chuyển hướng, khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; chuyển hướng nhưng không nhường đường cho xe đi ngược chiều, chuyển hướng khi còn gây trở ngại, nguy hiểm cho phương tiện khác. Một phần nguyên nhân tai nạn là do bị hại Nguyễn Đăng H2 điều khiển xe mô tô qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức và có chướng ngại vật trên đường (xe ô tô 81C-150.40 đang chuyển hướng), nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn.

Tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Làm chết người;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • ...”.

Phương tiện giao thông cơ giới khi tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ. Vì vậy, đòi hỏi mọi công dân khi cho xe lưu thông đều phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho chủ sỡ hữu cũng như mọi người xung quanh.

Bị cáo Đặng Thế D có giấy phép lái xe hạng D theo quy định, khi điều khiển xe ô tô biển số 77C-233.93 tham gia giao thông đường bộ nhưng không đảm bảo nguyên tắc an toàn giao thông, không tập trung, chú ý quan sát chướng ngại vật phía trước. Hành vi đó đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và khoản 2 Điêu 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Thế D gây ra là tổn thương cơ thể 01 người với tỷ lệ 81% nên đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho người đại diện hợp pháp của bị hại; quá trình điều tra người đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bên cạnh đó, bị hại cũng có một phần lỗi là không có giấy phép lái xe khi tham gia giao thông và không giảm tốc độ ở đoạn đường giao nhau. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp, vừa đảm bảo tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời nêu cao tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Qua xem xét, bị cáo D có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đối chiếu với các quy định tại Điều 31, 32, 50, 65 của Bộ luật hình sự. Xét nên áp dụng hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo, bên cạnh sự giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo.

[4] Về dân sự: Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Đặng Thế D đã đưa bị hại Nguyễn Đăng H2 cấp cứu và cùng hỗ trợ chi phí điều trị cho H2. Đến thời điểm hiện tại, tổng số tiền H2 đã hỗ trợ viện phí và bồi thường dân sự cho gia đình bị hại là 200.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thúy T2 – đại diện cho bị hại không có yêu cầu gì về mặt dân sự. Vì vậy, Hội đồng đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về vật chứng vụ án:

Đối với xe ô tô biển số 81C-150.40 cùng 01 giấy đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận kiểm định; và xe mô tô biển số 81B2-443.66. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sơ hữu là phù hợp. Sau khi nhận lại tài sản từ Cơ quan điều tra thì ông Nguyễn Đình H3 và bà Lê Thúy T2 không có ý kiến gì, cũng không có yêu cầu bồi thường dân sự đối với giá trị tài sản bị thiệt hại của 02 phương tiện này. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với bà Lê Thúy T2, là chủ sở hữu của xe mô tô biển số 81B2-443.66, qua điều tra xác định: Ngày 21/10/2023, khi bà T2 đi vắng thì bị hại Nguyễn Đăng H2 tự ý lấy xe mô tô 81B2-443.66 điều khiển tham gia giao thông, sau đó bị tai nạn. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với bà T2 về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông, là có căn cứ.

Đối với bị hại Nguyễn Đăng H2, đã bị Công an T3 xử phạt hành chính về hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo Đặng Thế D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đặng Thế D;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thế D phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thế D 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án 31-10-2024.
  3. Giao bị cáo Đặng Thế D cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
  5. Buộc bị cáo Đặng Thế D phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:
  7. Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Công an thành phố Pleiku;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 218/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thế D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger