Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2024/DS-ST

Ngày 30-9-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh - Cán bộ hưu trí;

2. Bà Thiều Thị Phi Loan - Cán bộ hưu trí;

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 532/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1465/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: B - B N, phường H, quận C, TP...

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H – Chuyên viên quản lý tín dụng.

Địa chỉ liên lạc: Số B, đường C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Trần Nguyên T, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Tổ A, khu phố C (nay là tổ D, khu phố C), phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông H có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trung H trình bày:

Ngày 10/01/2023, ông Trần Nguyên T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 16/2023/T01 ngày 10/01/2023 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tại W – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông T với hạn mức sử dụng là 80.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng từ ngày 05/02/2023 đến ngày 05/06/2023 ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 320.005.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày 05/02/2023 đến ngày 05/9/2023 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 251.155.261 đồng (Hai trăm năm mươi mốt triệu, một trăm năm mươi lăm nghìn, hai trăm sáu mươi mốt đồng), bao gồm: Trả vốn: 241.400.717 đồng, phí trễ hạn: 712.853 đồng, lãi: 8.342.691 đồng, phí vượt hạn mức 100.000 đồng, phí thẻ: 599.000 đồng, thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Kể từ ngày 06/9/2023 cho đến nay ông T đã không thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ còn lại.

Qua nhiều lần làm việc, đôn đốc nhắc nhở nhưng ông T vẫn không thanh toán nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và cam kết khi phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), đến nay khoản nợ trên đã quá hạn.

Như vậy tính đến ngày 30/9/2024 ông T còn nợ tổng số tiền là: 117.851.901 đồng (Một trăm mười bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm linh một đồng) (Trong đó: Nợ vốn: 78.604.283 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm linh tư nghìn, hai trăm tám mươi ba đồng), phí trễ hạn: 1.914.441 đồng (Một triệu, chín trăm mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng), lãi: 37.097.110 đồng (Ba mươi bảy triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm mười đồng), phí vượt hạn mức: 236.067 đồng (Hai trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm sáu mươi bảy đồng).

Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do đó, Ngân hàng TMCP S làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc ông Trần Nguyên T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 117.851.901 đồng (Một trăm mười bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm linh một đồng).
  2. Buộc ông Trần Nguyên T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Về chi phí tố tụng: Yêu cầu phía bị đơn phải chịu toàn bộ theo quy định tại Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng mà các bên đã ký kết.

Bị đơn ông Trần Nguyên T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp cho Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Trần Nguyên T phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 117.851.901 đồng (Một trăm mười bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm linh một đồng). Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Trần Nguyên T có địa chỉ cư trú cuối cùng tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho bị đơn bằng hình thức đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Nguyên T thanh toán số tiền còn nợ đối với hợp đồng tín dụng, nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng TMCP S đã ký với khách hàng Trần Nguyên T Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 16/2023/T01 ngày 10/01/2023 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tại W – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 80.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng từ ngày 05/02/2023 đến ngày 05/06/2023 ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 320.005.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày 05/02/2023 đến ngày 05/9/2023 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 251.155.261 đồng, thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể như sau: Trả vốn: 241.400.717 đồng, phí trễ hạn: 712.853 đồng, lãi: 8.342.691 đồng, phí vượt hạn mức 100.000 đồng, phí thẻ: 599.000 đồng. Tổng cộng: 251.155.261 đồng (Hai trăm năm mươi mốt triệu, một trăm năm mươi lăm nghìn, hai trăm sáu mươi mốt đồng). Kể từ ngày 06/9/2023 cho đến nay ông T đã không thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ.

Qua nhiều lần làm việc, đôn đốc nhắc nhở nhưng ông T vẫn không thanh toán nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và cam kết khi phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), đến nay khoản nợ trên đã quá hạn.

Như vậy tính đến ngày 30/9/2024 ông T còn nợ tổng số tiền là: 117.851.901 đồng (Một trăm mười bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm linh một đồng) (Trong đó: Nợ vốn: 78.604.283 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm linh tư nghìn, hai trăm tám mươi ba đồng), phí trễ hạn: 1.914.441 đồng (Một triệu, chín trăm mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng), lãi: 37.097.110 đồng (Ba mươi bảy triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm mười đồng), phí vượt hạn mức: 236.067 đồng (Hai trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm sáu mươi bảy đồng).

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc ông Trần Nguyên T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 117.851.901 đồng (Một trăm mười bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm linh một đồng).
  2. Buộc ông Trần Nguyên T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cố tình vắng mặt cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền tự chứng minh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp để giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp như Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tại W – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng được ký kết giữa các bên thể hiệc việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Nguyên T phải trả số tiền gốc và lãi còn nợ là có cơ sở chấp nhận.

Do vậy, căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần Nguyên T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn nợ là: 117.851.901 đồng (Một trăm mười bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm linh một đồng) (Trong đó: Nợ vốn: 78.604.283 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm linh tư nghìn, hai trăm tám mươi ba đồng), phí trễ hạn: 1.914.441 đồng (Một triệu, chín trăm mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng), Lãi: 37.097.110 đồng (Ba mươi bảy triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm mười đồng), phí vượt hạn mức: 236.067 đồng (Hai trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm sáu mươi bảy đồng).

[5] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) theo bản Điều khoản và Điều kiện cấp tín dụng mà các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  2. Buộc ông Trần Nguyên T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là: 117.851.901 đồng (Một trăm mười bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm linh một đồng). (Trong đó: Nợ vốn: 78.604.283 đồng (Bảy mươi tám triệu, sáu trăm linh tư nghìn, hai trăm tám mươi ba đồng), phí trễ hạn: 1.914.441 đồng (Một triệu, chín trăm mười bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng), lãi: 37.097.110 đồng (Ba mươi bảy triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm mười đồng), phí vượt hạn mức: 236.067 đồng (Hai trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm sáu mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày 01/10/2024, ông Trần Nguyên T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 16/2023/T01 ngày 10/01/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Nguyên T phải chịu 5.892.595 đồng (Năm triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng).

    Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.460.194 đồng (Hai triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, một trăm chín mươi tư đồng) theo biên lai thu tiền số 0003908 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

  4. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Nguyên T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hoà;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hoà;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thái Hòa

Huỳnh Thị Kim K

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 218/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger