Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 218/2024/HSST

Ngày: 12/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, TP . HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Tuấn.

2. Bà Hoàng Phương Lan.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 202/2024/HSST, ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2024/QĐST ngày 27/8/2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đinh Tiến D (Bé), Sinh năm: 1986 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Tổ A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/12. Bố đẻ: Ông Đinh Ngọc T, mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị Kim H. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: 01 tiền án. Bản án hình sự sơ thẩm số 112 ngày 27/5/2021, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 08/4/2022 (Chưa được xóa án tích). Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm.

Nhân thân: Ngày 26/6/2004, Ủy ban nhân dân huyện T, Hà Nội đưa vào trường giáo dưỡng 18 tháng theo Quyết định số 04 (Đã được xóa).

Bản án hình sự sơ thẩm số 123 ngày 14/7/2008 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo D kháng cáo sau đó rút kháng cáo. TAND TP Hà Nội đình chỉ xét xử phúc thẩm

1

theo quyết định số 119 ngày 18/9/2008. Đã nộp tiền án phí. Ra trại ngày 08/10/2009 (Đã được xóa án tích).

Bản án hình sự sơ thẩm số 335 ngày 29/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, TP Hà Nội xử 09 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Đã nộp tiền án phí. Ra trại ngày 03/02/2012. (Đã được xóa án tích).

Ngày 08/12/2012, Công an đồn A1, huyện T, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác mức phạt 1.500.000 đồng.

Ngày 14/01/2013, Công an đồn A1, huyện T, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ mức phạt 1.500.000 đồng.- Ngày 21/9/2013, Công an phường Q, quận T, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy mức phạt 1.500.000 đồng.

Bị cáo đầu thú tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số I - Công an thành phố H – Có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Phùng Huy H1, sinh năm: 1985 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Tổ A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Thợ sắt tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 7/12. Bố đẻ: Ông Phùng Văn L (Đã chết), mẹ đẻ: Bà Bùi Thị K. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là thứ ba. Vợ: Chị Nguyễn Thị H2 (Đã chết). Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2003, đi cai nghiện tại Trung tâm C1, Hà Nội. - Năm 2005, đi cai nghiện tại Trung tâm C2, Hà Nội.

Ngày 12/4/2024, Phùng Huy H1 bị công an quận C bắt, khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H – Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm: 1965;

Nơi cư trú: Tổ 8, cụm 3, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội;

Chỗ ở: Nhà C2, Xuân Lộc 4, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (anh C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 23 giờ 10 phút ngày 30/3/2024, công an phường C, B, Hà Nội nhận được đơn trình báo của anh Trần Văn H3 về việc: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 30/3/2024, anh H3 phát hiện có 02 nam thanh niên cởi trần,

2

mặc quần soóc màu đen kéo xe cải tiến trộm cắp 01 cây xanh tại vườn của anh Nguyễn Đức C rồi kéo ra hàng rào sắt cạnh đường T, TDP P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Quá trình phát hiện, anh H3 lập tức tri hô thì 02 đối tượng đã bỏ chạy. Kiểm tra xung quanh khu vực vườn cây, anh H3 cùng người dân phát hiện trên vỉa hè đường T, cách vườn nhà anh C khoảng 50 mét có 01 xe máy Winer X, BKS: 18G1-53290 nên anh đã trình báo sự việc trên với công an phường C. (BL 151-153)

Ngày 09/5/2024, Đinh Tiến D đến Công an phường C, quận B, thành phố Hà Nội đầu thú và khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp cây xanh tại đường T, TDP P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội vào tối ngày 30/3/2024 cùng Phùng Huy H1.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ của anh Trần Văn H3: (BL 157, 181) 01 (một) xe máy Winer X, màu đen, BKS: 18G1-53290, số khung: RLHKC4406NY009568, số máy: KC34E5004585, 01 (một) xe cải tiến đã qua sử dụng.

Thu giữ của chị Vũ Quỳnh A (BL 211) 01 USB (bên trong có đoạn clip 25 giây ghi lại hình ảnh lúc 20 giờ 12 phút 49 giây có 02 nam thanh niên đèo nhau bằng xe máy, người ngồi sau kéo theo 01 xe cải tiến do camera an ninh nhà chị ghi lại)

Đối với 01 cây xanh thu giữ tại hiện trường, công an phường C đã lập biên bản tạm giao cho anh Trần Văn H3 quản lý, bảo quản (BL 161).

Kết luận định giá số 192 ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận B kết luận: 01 cây xanh thế, năm tán chiều cao 1m, đường kính tán khoảng 1,8m đến 2,2m chu vi gốc cây 0,8m chu vi ngọn 0,4m trị giá 9.000.000 đồng. (BL 25-27)

Quá trình điều tra xác định: Đinh Tiến D và Phùng Huy H1 là bạn bè xã hội với nhau. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/3/2024, Đinh Tiến D đến nhà Phùng Huy H1 chơi sau đó H1 rủ D đi lấy trộm cây cảnh tại khu vực đường T thì D đồng ý. H1 lấy xe máy Winer BKS: 18G1-532.90 của H1 chở D ngồi sau kéo theo xe cải tiến đi đến khu vực đường T gần Học viện C3 thuộc địa phận phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, D xuống xe kéo xe cải tiến đến gần hàng rào B còn H1 để xe máy cách đó khoảng 50m rồi lấy kìm trong cốp xe cắt hàng rào. Sau đó, H1 và D đẩy xe cải tiến vào gần 01 cây xanh thế (trong vườn cây cảnh), D dùng cục bê tông gần đó đập vỡ chậu cây rồi cả hai cùng bới đất ở gốc cây ra cho đỡ nặng và bê cây lên xe cải tiến. Sau khi bê cây xanh thế lên xe cải tiến xong thì D và H1 đẩy xe cải tiến ra ngoài, khi tới hàng rào đã cắt thì gặp anh Trần Văn H3 (là người làm thuê cho anh C) cầm đèn pin soi và hỏi “làm gì

3

đấy?”. Thấy vậy, H1 bỏ chạy còn D trả lời là đi vệ sinh, anh H3 tri hô “Trộm, trộm” thì D cũng bỏ chạy được khoảng 200 mét không thấy ai đuổi theo nên đã cởi quần dài vứt ở đường (không xác định được vứt ở đâu), vắt áo ra sau quần đùi giả làm người dân đi bộ tập thể dục quay lại mục đích để lấy xe máy hộ H1 nhưng thấy đông người nên D đã bỏ về. Còn H1 sau khi bỏ trốn đã về nhà bảo anh trai là Phùng Xuân L1 bị ngã xe và nhờ anh L1 chở ra lấy xe nhưng người dân không cho lấy và yêu cầu đưa giấy tờ xe nên L1 đã chở H1 về lấy giấy tờ xe.

Tại cơ quan điều tra, Đinh Tiến D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và khai: H1 và D không có mâu thuẫn gì với nhau, đây là lần đầu D đi trộm cắp tài sản cùng H1. D thừa nhận hình ảnh thu giữ từ camera an ninh do chị Vũ Quỳnh A cung cấp là hình ảnh H1 điều khiển xe máy chở D kéo theo xe cải tiến của nhà H1 đi trộm cắp cây cảnh vào ngày 30/3/2024. Khi đi trộm cắp H1 mặc áo phông cộc tay bó sát người có hoa văn màu xanh đen, quần đùi màu xanh; D mặc áo phông cộc tay màu ghi, quần dài màu đen. Khi thực hiện hành vi trộm cắp cây xanh thế do nóng nên D kéo quần dài lên quá đầu gối và cởi trần, áo D vắt vào cạp quần phía sau; H1 mặc quần đùi và cởi trần, áo H1 để đâu thì D không rõ. D không đi lấy cát cùng H1 vào ngày 30/3/2024. Cơ quan điều tra tiến hành cho D nhận dạng H1 và D nhận dạng được ra H1 (BL 68-111).

Quá trình điều tra, H1 liên tục thay đổi, bổ sung lời khai về việc bản thân không đi trộm cắp cây xanh với Đinh Tiến D: H1 khai gia đình H1 chỉ có 01 chiếc xe cải tiến, cho H1 xem hình ảnh chiếc xe cải tiến thu giữ tại hiện trường H1 cho biết không phải xe của gia đình H1. Ban đầu H1 khai ngày 30/3/2024 H1 sử dụng điện thoại lắp số thuê bao 0913198886 để liên lạc với “S” và anh L1, H1 không nhớ số điện thoại của “S” và anh L1. Sau đó H1 thay đổi lời khai và khai không liên lạc với “S” qua điện thoại mà H1 đi chơi thì gặp “S” nên “S” rủ H1 tối ngày 30/3/2024 đi uống bia tại quán B ở đường L, H1 có liên lạc với anh L1 nhưng không nhớ liên lạc qua zalo hay số điện thoại. Sau khi đi uống bia với “S”, H1 đi về theo đường L ra đường C, rẽ phải đi Phan Bá V ra Cầu N về hướng đường T mục đích tiếp tục ra xem có còn cát không để xin thì bị đâm vào gạch ngã xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Đinh Tiến D và Phùng Huy H1, D và H1 giữ nguyên lời khai như đã khai (41-41).

Mặc dù Phùng Huy H1 không thừa nhận đã cùng Đinh Tiến D đi trộm cắp cây xanh nhưng căn cứ lời khai của bà Bùi Thị K là mẹ của H1, anh Phùng Xuân L1, biên bản xác định hiện trường, tang vật thu giữ là chiếc xe máy BKS Winner 18G1-532.90 cùng chiếc xe cải tiến thu giữ tại hiện trường, kết quả thu giữ thư tín điện tín... đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 20 giờ 00 phút, Phùng Huy H1 đi xe máy Winer BKS: 18G1-532.90 chở Đinh Tiến D kéo theo 01 xe cải tiến đến trộm

4

cắp 01 cây xanh thế tại vườn của ông Nguyễn Đức C ở đường T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Việc Phùng Huy H1 không thừa nhận đi trộm cắp với Đinh Tiến D và thường xuyên bổ sung, thay đổi lời khai trong quá trình điều tra nhằm mục đích chối tội. (BL 68- 238)

Đối với chiếc xe máy Winer BKS: 18G1-532.90, qua xác minh đăng ký xe đứng tên anh Nguyễn Đức T1. Anh T1 cho biết mua và đăng ký xe tháng 12/2022 đến tháng 01/2024 bán xe cho anh Nguyễn Phúc L2. Anh L2 cho biết mua xe từ anh T1 khoảng tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 bán lại cho Phùng Huy H1. (BL 200-206).

Đối với 01 USB, 01 xe máy và 01 xe cải tiến bị thu giữ là những vật chứng liên quan đến vụ án cần chuyển theo hồ sơ để xử lý theo quy định. Về dân sự: anh Nguyễn Đức C không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Bản Cáo trạng số 200/CT-VKSBTL ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo Đinh Tiến D và bị cáo Phùng Huy H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo D, H1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo với mức án nhẹ nhất bị cáo H1 có mẹ già, hai con nhỏ không ai chăm sóc.
  • Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 17, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Khoản 1 Điều 173, bị cáo D thêm Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo D, H1 mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.

Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không phạt tiền đối với các bị cáo.

Về dân sự: Anh C đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì về bồi thường dân sự không xét.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy Winer X, màu đen, BKS: 18G1-53290, số khung: RLHKC4406NY009568, số máy: KC34E5004585, 01 (một) xe cải tiến đã qua sử dụng của bị cáo H1.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.

5

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Lời khai nhận tội của bị cáo D, H1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 30/3/2024, tại vườn cây cảnh ở đường T thuộc địa phận phường C, B, thành phố Hà Nội, Phùng Huy H1 và Đinh Tiến D đã có hành vi trộm cắp 01 cây xanh thế trị giá 9.000.000 đồng của anh Nguyễn Đức C. Tài sản đã được thu hồi trao trả cho C. Anh C không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
  2. [2] Hành vi nêu trên của bị cáo Phùng Huy H1 và Đinh Tiến D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
  3. [3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo có nhân thân xấu. Bản án hình sự sơ thẩm số 112 ngày 27/5/2021, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử bị cáo D 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 08/4/2022 (Chưa được xóa án tích). Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm. Bị cáo H1 được tại ngoại tiếp tục phạm tội ngày 12/4/2024, bị cáo H1 bị công an quận C bắt, khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo D đầu thú, bị cáo D, H1 thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại bị hại. Bị hại nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Bị cáo D, H1 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong trong quần chúng nhân dân. Căn cứ vào bản kết luận định giá tài sản số 192 ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận B kết luận: 01 cây xanh thế, năm tán chiều cao 1m, đường kính tán khoảng 1,8m đến 2,2m chu vi gốc cây 0,8m chu vi ngọn 0,4m trị giá 9.000.000 đồng, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nhận thức được hành vi của mình là sai nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định khi có cơ hội là thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vai trò các bị cáo trong vụ án này bị cáo H1 là người chủ mưu cầm đầu, chủ động rủ bị cáo D, bị cáo H1 là người chuẩn bị công cụ phương tiện (xe máy, xe cải tiến, kìm) phạm tội. Bị cáo H1, D thành khẩn khai báo ăn năn hối

6

cải, do vậy các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1, 2, Điều 51.

Bị cáo D phạm tội lần này là tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào.

  1. [4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên, bị hại anh C có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần xử mức án bị cáo D cao hơn bị cáo H1 cách ly các bị cáo D và H1 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo suy nghĩ về những hành vi của các bị cáo đã gây ra.
  2. [5] Về trách nhiệm dân sự: Anh C đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên HĐXX không xét.
  3. [6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy Winer BKS: 18G1-532.90, qua xác minh đăng ký xe đứng tên anh Nguyễn Đức T1. Anh T1 mua và đăng ký xe tháng 12/2022 đến tháng 01/2024 bán xe cho anh Nguyễn Phúc L2. Anh L2 mua xe từ anh T1 khoảng tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 bán lại cho bị cáo Phùng Huy H1. HĐXX thấy H1 đã mua xe của T1 và dùng xe máy, xe cải tiến vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  4. [7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo H1 từ 15 đến 18 tháng tù; xử phạt bị cáo D 15 đến 18 tháng tù. Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Tuy nhiên đánh giá về nhân thân bị cáo D phạm tội lần này là tái phạm nên xử mức án cao hơn bị cáo H1 mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Về đề nghị xung quỹ chiếc xe máy, xe cải tiến là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
  5. [8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  6. [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

7

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điều 38, 58, Điểm s Khoản 1,2 Điều 51(riêng bị cáo D thêm Điểm h khoản 1 Điều 52) của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Đinh Tiến D, Phùng Huy H1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Đinh Tiến D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024.

    Xử phạt: Bị cáo Phùng Duy H4 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  3. Về dân sự: Không.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy Winer X, màu đen, BKS: 18G1-53290, số khung: RLHKC4406NY009568, số máy: KC34E5004585, 01 (một) xe cải tiến đã qua sử dụng của bị cáo H4. Hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo biên bản giao nhận vật chứng số 254 ngày 23/8/2024.
  5. Về án phí: Bị cáo D, H4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí Hình sự sơ thẩm.
  6. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại anh C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - TT lý lịch-Sở tư pháp Hà Nội;
  • - VKSND Q. Bắc Từ Liêm
  • - VKSND thành phố Hà Nội
  • - TAND thành phố Hà Nội
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Lưu HS-VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lý Kế Hiền

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HSST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 218/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đinh Tiến D và Phùng Huy H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger