Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 218/2024/DS-PT

Ngày: 13/8/2024

“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt

Bà Thái Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Lê Hồng Thư– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 135/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 234/2023/DS-ST ngày 8 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 154/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 492/2024/QĐ-PT ngày 09/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 527/2024/QĐ-PT ngày 26/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Địa chỉ: Số B P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quang L – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc T – Giám đốc Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Đ1

Địa chỉ: A đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo Giấy ủy quyền số 64/GUQ-SGB ngày 02/3/2023).

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông T: Ông Lê Trọng K – Chức vụ: Nhân viên kinh doanh Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Đ1.

- Địa chỉ: A đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền số 75/2023-GUQ ngày 14/3/2023).

- Bị đơn:

1. Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1967.

2. Bà Nguyễn Kim L1, sinh năm 1967.

Cùng địa chỉ: Số C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị C, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Số H, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông K, ông Đ có mặt; bà L1, bà C có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 14/3/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Lê Trọng K trình bày:

Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt Ngân hàng) có cho ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vay vốn theo các Hợp đồng tín dụng sau đây:

  1. Hợp đồng tín dụng số 30/2018/HĐ TDTL-CN ngày 17/5/2018, Ngân hàng cho ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vay số tiền 2.800.000.000 đồng. Nhận nợ theo giấy nhận nợ số 01-30/2018 ngày 24/5/2018; Thời hạn cho vay 84 tháng; Mục đích sử dụng vốn: thanh toán tiền đã ứng trước để xây nhà ở. Lãi suất cho vay tại thời điểm nhận nợ là 11,5%/năm. Lãi suất này được điều chỉnh định kỳ theo quy định của Ngân hàng TMCP S. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn: 10%/năm trên số tiền chậm trả lãi. Kế hoạch trả nợ: Trả nợ lãi hàng tháng; Trả nợ gốc chia làm 07 kỳ hạn trả nợ (mỗi kỳ 12 tháng).

- Tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 đứng tên chủ sở hữu, sử dụng. Tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 30/HĐTC-2018 ngày 17/05/2018, được Văn phòng công chứng Bùi Ngọc Hiếu tỉnh Đ chứng thực ngày 18/05/2018, số cô ng chứng 2779, quyển số 03/TP/CC- SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/05/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ, bà L1 đã thanh toán số tiền gốc, lãi cho Ngân hàng là: 1.669.065.889 đồng (gồm: nợ gốc 755.000.000 đồng; nợ lã i 914.065.889 đồng) thì ngưng trả nợ từ 26/8/2021 đến nay.

Dư nợ tính đến ngày xét xử (08/12/2023) là: 2.687.703.478 đồng (gồm: nợ gốc: 2.045.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 449.029.716 đồng; nợ lãi quá hạn gốc: 139.821.988 đồng; lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn: 53.851.774 đồng.

  1. Hợp đồng tín dụng số 74/2018/HĐTDHM-CN ngày 19/9/2018, Ngân hàng cho ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vay số tiền là: 800.000.000 đồng. Nhận nợ theo giấy nhận nợ số: 06-74/2018 ngày 07/12/2020; số: 07-74/2018 ngày 23/12/2020; số: 08-74/2018 ngày 24/02/2021; Thời hạn cho vay: 12 tháng cho mỗi lần nhận nợ theo từng giấy nhận nợ; Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh mua bán xe ô tô, xe gắn máy; Lãi suất cho vay tại thời điểm nhận nợ: 11%/năm. Lãi suất này được điều chỉnh định kỳ theo quy định của Ngân hàng TMCP S. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn: 10%/năm trên số tiền chậm trả lãi. Kế hoạch trả nợ: Trả nợ lãi hàng tháng; Trả nợ gốc: Trả cuối kỳ khi đến hạn hoặc trả nợ trước hạn.

- Tài sản bảo đảm: Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc thừa đất số 287, tờ bản đồ số 32 tại số H KP3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do bà Lê Thị C đứng tên chủ sở hữu, sử dụng. Tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số: 87/HĐTC-2018 ngày 19/09/2018 được Văn phòng công chứng Bùi Ngọc Hiếu tỉnh Đ chứng thực ngày 24/09/2018, số công chứng 5178, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 24/09/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ, bà L1 đã thanh toán số tiền gốc, lãi cho Ngân hàng là: 54.160.889 đồng (gồm: nợ gốc: 0 đồng; nợ lãi: 54.160.889 đồng) thì ngưng trả nợ từ 26/8/2021 đến nay.

Dư nợ tính đến ngày xét xử (ngày 08/12/2023) là: 1.095.567.833 đồng (gồm: nợ gốc 800.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 33.839.111 đồng; nợ lãi quá hạn gốc 254.687.671 đồng; lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn 7.041.051 đồng).

* Theo các Hợp đồng tín dụng nói trên, ông Đ, bà L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, đến nay vẫn chưa thanh toán đầy đủ các khoản lãi tiền vay và nợ gốc đã quá hạn thanh toán. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở thông qua các thông báo nợ quá hạn để yêu cầu ông Đ, bà L1 thực hiện đúng các cam kết nhưng ông bà không có thiện chí trong việc trả nợ vay cho Ngân hàng.

Như vậy, tổng số tiền ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 còn nợ tính đến ngày 08/12/2023 là: 3.783.271.311 đồng (gồm: nợ gốc 2.845.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 482.868.827 đồng; nợ lãi quá hạn gốc: 394.509.659 đồng; lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn 60.892.825 đồng).

Nay Ngân hàng khởi kiện ông Đ, bà L1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân

hàng TMCP S số tiền (tạm tính đến ngày 08/12/2023) tổng cộng 3.783.271.311 đồng (gồm: nợ gốc 2.845.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 482.868.827 đồng; nợ lãi quá hạn gốc: 394.509.659 đồng; lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn 60.892.825 đồng).

Ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 tiếp tục phải trả các khoản lãi và lãi chậm trả, chi phí phát sinh kể từ ngày 09/12/2023 theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.

  1. Trường hợp ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S, thì Ngân hàng TMCP S yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán nợ của ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 là:
  • + Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 561499 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/11/2005) và các tài sản gắn liền trên đất của ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thuộc thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 tại phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai. Tài sản thế chấp này theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 30/HĐTC-2018 ngày 17/05/2018;
  • + Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 287, tờ bản đồ số 32 tại địa chỉ số 820H/6 KP3, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai do bà Lê Thị C đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701082460 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp ngày 10/10/2003). Tài sản thế chấp này theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số: 87/HĐTC-2018 ngày 19/09/2018.
  1. Trường hợp sau khi thi hành án tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán số tiền vốn gốc nợ vay, các khoản lãi và lãi chậm trả có liên quan, chi phí phát mãi tài sản thì ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.

Đề nghị Toà xem xét giải quyết khoản chi phí tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Theo lời khai của bị đơn ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án:

Ông Đ và bà L1 xác nhận có ký các Hợp đồng tín dụng (Hợp đồng tín dụng số 30/2018/HĐ TDTL-CN ngày 17/5/2018 và Hợp đồng tín dụng số 74/2018/HĐTDHM-CN ngày 19/9/2018) và ký các Hợp đồng thế chấp tài sản để vay tiền của Ngân hàng TMCP S theo như nội dung của bên nguyên đơn đã trình bày như trên.

Về khoản nợ của Ngân hàng nói trên ông Đ, bà L1 đề nghị Ngân hàng cho ông, bà trả nợ cho Ngân hàng trong thời hạn 12 tháng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Lê Thị C trình bày:

Lê Thị C có dùng tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thuộc thửa đất 287 tờ bản đồ 32 tọa lạc tại H, khu phố C, phường T, thành phố B được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701082460 ngày 10/10/2003 để đảm bảo cho khoản vay tín dụng của ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vay tiền tại Ngân hàng TMCP S (Theo hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 87/HĐTC-2018 ngày 19/9/2018).

Do ông Đ, bà L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Đ, bà L1 tại Tòa án. Do đó bà đề nghị Ngân hàng gia hạn cho ông Đ, bà L1 thời hạn thanh toán nợ trong 12 tháng. Sau khi ông Đ, bà L1 thanh toán các khoản nợ theo quyết định của Tòa án, Ngân hàng P hoàn trả giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho bà C.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 234/2023/DS-ST ngày 8 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai quyết định:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 463, Điều 466; Điều 299, 317, 318, 319, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
  • - Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

  1. Buộc ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là: 3.783.271.311đồng (Ba tỷ, bảy trăm tám mươi ba triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm mười một đồng).

Trong đó: Nợ gốc 2.845.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 482.868.827 đồng; nợ lãi quá hạn gốc: 394.509.659 đồng; lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn 60.892.825 đồng.

  1. Trường hợp ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán nợ của ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 là:
  • + Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 291,4m² do ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 561499 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/11/2005) và các tài sản gắn liền trên thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chưa được cấp Giấy chứng nhận thuộc quyền sở hữu ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 (Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 30/HĐTC-2018 ngày 17/05/2018);
  • + Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 287, tờ bản đồ số 32 có diện tích 102,8m²; Nhà ở có kết cấu: tường gạch, cột gạch, mái tôn, có diện tích 24,02m², diện tích xây dựng 25,83m², tại địa chỉ số H KP3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do bà Lê Thị C đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701082460 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp ngày 10/10/2003) - Theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số: 87/HĐTC-2018 ngày 19/09/2018.

Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán hết nợ thì ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 22/12/2023, ông Lê Thành Đ, bà Nguyễn Kim L1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo hướng gia hạn thời hạn thanh toán 24 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực; Phối hợp cùng Ngân hàng thanh lý tài sản “Ngoài tài sản thế chấp để trả gốc”, được miễn lãi và giảm tiền án phí.

Ngày 22/12/2023, bà Lê Thị C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng gia hạn thời hạn thanh toán 24 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực; Phối hợp cùng Ngân hàng thanh lý tài sản “Ngoài tài sản thế chấp để trả gốc”, được miễn lãi, giảm tiền án phí và đề nghị xem xét về việc thi hành án đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 32, tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Đ, bà L1 là chủ sở hữu là con đường đi chung của các hộ liền kề.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) cung cấp và lời khai của vợ chồng ông Đ, bà L1, bà C thì đã đủ cơ sở xác định vào ngày 17/5/2018, 19/9/2018 vợ chồng ông Đ, bà L1 có ký 2 hợp đồng tín dụng để vay của Ngân hàng số tiền 2.800.000.000 đồng + 800.000.000 đồng = 3.600.000.000 đồng; cùng với những thỏa thuận như đã nêu cụ thể trong 2 hợp đồng tín dụng. Để đảm bảo cho 2 khoản vay trong 2 hợp đồng tín dụng, vợ chồng ông Đ, bà L1, và bà C đã ký kết 2 hợp đồng thế chấp vào ngày 17/5/2018 và ngày 19/9/2018, trong đó dùng tài sản do vợ chồng ông Đ, bà L1 và bà C đứng tên để thế chấp.

Xét 2 hợp đồng tín dụng và 2 hợp đồng thế chấp nêu trên do các bên đương sự tự nguyện ký kết, không bị ép buộc, lừa dối; về hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng và đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, việc thế chấp đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, 2 hợp đồng tín dụng và 2 hợp đồng thế chấp này là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Đ và bà L1 chỉ trả nợ gốc, lãi được 1.723.226.778 đồng thì ngưng không tiếp tục trả từ 26/8/2021, trong đó:

Hợp đồng tín dụng ngày 17/5/2018 trả được gốc, lãi 1.669.065.889 đồng (Gồm: gốc 755.000.000 đồng; lãi 914.065.889 đồng). Hợp đồng tín dụng ngày 19/9/2018 trả được gốc, lãi 54.160.889 đồng (Gồm: gốc 0 đồng; lãi 54.160.889 đồng).

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/12/2023), vợ chồng ông Đ, bà L1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 3.783.271.311 đồng gồm: nợ gốc 2.845.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 482.868.827 đồng; nợ lãi quá hạn gốc: 394.509.659 đồng; lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn 60.892.825 đồng.

Vợ chồng ông Đ, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại 2 Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, 4 nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận vì phù hợp với quy định tại Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và phù hợp với thỏa thuận tại 2 hợp đồng tín dụng, 2 hợp đồng thế chấp. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận toàn bộ 4 nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là đúng quy định pháp luật.

Vợ chồng ông Đ, bà L1 và bà C kháng cáo yêu cầu gia hạn thời gian trả nợ 24 tháng; thanh lý tài sản ngoài tài sản thế chấp để trả nợ gốc; xin giảm lãi; xin giảm án phí. Xét yêu cầu kháng cáo này không phù hợp pháp luật, không phù

hợp với những nội dung đã thỏa thuận trong 2 hợp đồng tín dụng và 2 hợp đồng thế chấp; đồng thời phía Ngân hàng cũng không đồng ý nên không có cơ sở xem xét. Còn việc giảm án phí thì ông Đ, bà L1 không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí theo quy định. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo ông Đ, bà L1 và bà C; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 234/2023/DS-ST ngày 08/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Thành Đ, bà Nguyễn Kim L1, bà Nguyễn Thị C1 làm trong hạn luật định. Ông Đ, bà L1 đóng tạm ứng án phí đúng quy định; bà C1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, không phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ tư cách tố tụng của những người tham gia tố tụng.

[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án đã được Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xác định đúng và đầy đủ.

[3] Về nội dung vụ án, nội dung kháng cáo:

Ngày 17/5/2018 và ngày 19/9/2018, Ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 có ký 02 Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S, cụ thể:

  • - Hợp đồng tín dụng số 30/2018/HĐTDTL-CN ngày 17/5/2018, Ngân hàng cho ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vay số tiền 2.800.000.000 đồng. Nhận nợ theo giấy nhận nợ số 01-30/2018 ngày 24/5/2018;
  • - Hợp đồng tín dụng số 74/2018/HĐ TDHM-CN ngày 19/9/2018, Ngâ n hàng cho ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vay số tiền là: 800.000.000 đồng. Nhận nợ theo giấy nhận nợ số: 06-74/2018 ngày 07/12/2020; số: 07-74/2018 ngày 23/12/2020; số: 08-74/2018 ngày 24/02/2021.

Để đảm bảo cho 02 khoản vay theo 02 hợp đồng tín dụng trên, vợ chồng ông Đ, bà L1 và bà C1 đã ký kết 02 hợp đồng thế chấp, cụ thể:

  • - Hợp đồng thế chấp tài sản số: 30/HĐTC-2018 ngày 17/05/2018, được Văn phòng công chứng Bùi Ngọc Hiếu tỉnh Đ chứng thực ngày 18/05/2018, số công chứng 2779, quyển số 03/TP/CC- SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/05/2018. Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 561499 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/11/2005) và các tài sản gắn liền trên thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 phường T, thành phố B,

tỉnh Đồng Nai chưa được cấp Giấy chứng nhận thuộc quyền sở hữu ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1.

  • - Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số: 87/HĐTC-2018 ngày 19/09/2018 được Văn phòng công chứng Bùi Ngọc Hiếu tỉnh Đ chứng thực ngày 24/09/2018, số công chứng 5178, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 24/09/2018. Tài sản thế chấp: Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc thừa đất số 287, tờ bản đồ số 32 tại số H KP3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do bà Lê Thị C đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701082460 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp ngày 10/10/2003).

Xét thấy, Hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ được các bên tự nguyện ký kết, nội dung thoả thuận của các bên phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng. Do đó, Hợp đồng tín dụng số 30/2018/HĐTDTL-CN ngày 17/5/2018 và Hợp đồng tín dụng số 74/2018/HĐTDHM-CN ngày 19/9/2018 phát sinh hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Ông Đ, bà L1 phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán, lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận và lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ mà hai bên đã ký kết.

Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung không trái với các quy định của pháp luật, đã được công chứng và được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định. Do đo, Hợp đồng thế chấp tài sản số: 30/HĐTC-2018 ngày 17/05/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số: 87/HĐTC-2018 ngày 19/09/2018 có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Vợ chồng ông Đ, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại 2 Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là đúng quy định pháp luật.

Vợ chồng ông Đ, bà L1 và bà C kháng cáo yêu cầu gia hạn thời gian trả nợ 24 tháng; thanh lý tài sản ngoài tài sản thế chấp để trả nợ gốc; xin giảm lãi và đề nghị xem xét về việc thi hành án đối với thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32, tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do là con đường đi chung của các hộ liền kề. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Đ, bà L1, bà C không phù hợp pháp luật, không phù hợp với những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp mà các bên đã ký kết. Đồng thời, phía Ngân hàng cũng không đồng ý nên không có cơ sở xem xét.

Đối với nội dung kháng cáo xin giảm án phí thì ông Đ, bà L1 không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí theo quy định pháp luật.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo ông Đ, bà L1 và bà C; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 234/2023/DS-ST ngày 08/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Đ, bà L1, bà C không được chấp nhận nên ông Đ, bà L1, bà C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà C là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí do đó miễn án phí cho bà C theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thành Đ, bà Nguyễn Kim L1, bà Lê Thị C;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 234/2023/DS-ST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  • - Áp dụng Điều 463, Điều 466; Điều 299, 317, 318, 319, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

  1. Buộc ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là: 3.783.271.311 đồng (Ba tỷ, bảy trăm tám mươi ba triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm mười một đồng).

Trong đó: Nợ gốc 2.845.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 482.868.827 đồng; Nợ lãi quá hạn gốc: 394.509.659 đồng; Lãi chậm trả đối với tiền lãi trên nợ gốc trong hạn 60.892.825 đồng

Kể từ ngày 09/12/2023, ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 30/2018/HĐTDTL-CN ngày 17/5/2018, Hợp đồng tín dụng số 74/2018/HĐTDHM-CN ngày 19/9/2018 và các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  1. Trường hợp ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán nợ của ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 là:
  • + Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 291,4m² do ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 561499 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/11/2005) và các tài sản gắn liền trên thửa đất số 283, tờ bản đồ số 32 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chưa được cấp Giấy chứng nhận thuộc quyền sở hữu ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 (Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 30/HĐTC-2018 ngày 17/05/2018);
  • + Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 287, tờ bản đồ số 32 có diện tích 102,8m²; Nhà ở có kết cấu: tường gạch, cột gạch, mái tôn, có diện tích 24,02m², diện tích xây dựng 25,83m², tại địa chỉ số H KP3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do bà Lê Thị C đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4701082460 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp ngày 10/10/2003) - Theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số: 87/HĐTC-2018 ngày 19/09/2018.

Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán hết nợ thì ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

  1. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Thành Đ và bà Nguyễn Kim L1 phải chịu 107.665.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu, sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Hoàn trả Ngân hàng TMCP S 50.036.000 đồng (Năm mươi triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007374

ngày 20/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  1. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Lê Thành Đ phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp theo Biên lai số 0001904 ngày 26/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Nguyễn Kim L1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp theo Biên lai số 0001903 ngày 26/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Lê Thị C thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Biên Hòa;
  • - VKSND T. Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - THADS TP Biên Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/DS-PT ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 218/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng công thương khởi kiện về hợp đồng tín dụng với ông Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger