|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 218/2024/HS-ST Ngày 16-8-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Quang Hoạch.
Ông Đinh Xuân Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1995, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: 75/3C, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959 và bà Lê Thị N, sinh năm 1961; Có vợ tên Vũ Cao Kỳ D, sinh năm 1995; Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2023 (có mặt).
2/ Họ và tên: Nguyễn Đức T1, sinh năm 1995, tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Chăn nuôi gia súc; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Lê Phương S, sinh năm 1970; có vợ tên Thái Thị Ngọc H, sinh năm 1997; Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2023 (có mặt).
3/ Họ và tên: Nguyễn Trung H1, sinh năm 1998, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1965; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2023 (có mặt).
4/ Họ và tên: A S1, sinh năm 2002, tại Kon Tum.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K Nay S, phường T, Thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Rơ Ngao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A T2, sinh năm 1970 và bà Y B, sinh năm 1974; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 21/12/2023 (có mặt).
5/ Họ và tên: A Bin N1, sinh năm ngày 02/01/2006, tại Kon Tum.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã Đ, Thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Rơ Ngao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bin N2, sinh năm 1982 và bà Y T3, sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/12/2023 đến ngày 31/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Ông Lê Hà Vĩnh T4 - Luật sư, Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: Phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
1/ Ông Trần Văn Q, sinh năm 2004; (Vắng mặt)
2/ Ông Bùi Văn H3, sinh năm 2001; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ ngày 21/12/2023, Công an xã B, huyện T tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, khi đến đường N, thuộc thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T thì phát hiện A S1 điều khiển xe mô tô biển số 36M1-6349 chở A Bin N1 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Khi thấy Công an thì Nghị ném 01 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng xuống đường cách đuôi xe khoảng 01 mét thì bị Tổ tuần tra phát hiện thu giữ (S1 và N1 khai nhận gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng là ma tuý đá của S1 và N1 góp tiền mua của K nhà ở số G, ấp T, xã H 3, huyện T với giá 300.000 đồng để sử dụng). Công an xã B, huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng và lập hồ sơ ban đầu bàn giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền.
Đến 17 giờ ngày 22/12/2023, Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở là căn nhà của K, thời điểm khám xét trong nhà có 03 đối tượng gồm: Nguyễn Văn K (chủ nhà); Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Đức T1. Khi phát hiện lực lượng Công an, T1 bỏ chạy và ném 01 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng ra ngoài thì bị phát hiện bắt giữ. Tiếp tục khám xét thu giữ: 01 gói nylon chứa ma tuý trong ví da màu đen của K để trên bàn trang điểm; dưới gầm tủ sắt sát tường có 15 gói nylon chứa ma tuý đá; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm: 01 bình nhựa đựng nước có nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa, 01 lỗ cắm nỏ thuỷ tinh nhưng bị vỡ phần đựng ma tuý) và dụng cụ để phân chia ma túy.
Tiến hành xét nghiệm (test nhanh) việc sử dụng ma túy đối với A S1, A Bin N1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Đức T1 đều cho kết quả dương tính với chất ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng, được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của A S1, A Bin N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai;
- - 01 gói nylon chứa chất màu trắng trong bóp da màu đen của K để trên bàn trang điểm trong phòng ngủ, được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của Nguyễn Văn K, Nguyễn Trung H1, Nguyễn Đức T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (ký hiệu M1);
- - 15 (mười lăm) gói nylon chứa chất màu trắng dưới gầm tủ sắt sát tường trong phòng ngủ, được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của Nguyễn Văn K, Nguyễn Trung H1, Nguyễn Đức T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (ký hiệu M2);
- - 01 gói nylon chứa chất màu trắng tại bụi chuối nơi giữ Nguyễn Đức T1, được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của Nguyễn Văn K, Nguyễn Trung H1, Nguyễn Đức T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (ký hiệu M3);
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (gồm: 01 bình nhựa đựng nước có nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa, 01 lỗ cắm nỏ thuỷ tinh nhưng bị vỡ phần đựng ma tuý), 01cân tiểu ly, 01 kéo bằng kim loại và 01 bật lửa;
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 36M1-6349 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng, gắn sim số: 0332946416 của S1;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 6S màu xám gắn sim số 0368821017 của K;
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60B8-89428, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen gắn sim số 0969646804 của H1;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen số sim 0965.012.612 của T1.
Ngày 23/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định số: 611/QĐ-KTMT và Quyết định số: 612/QĐ-KTMT về việc trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nên trên.
Tại bản kết luận giám định số: 2899/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận:
- - Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,1274gam, loại Methamphetamine".
- - Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 8,0326gam, loại Methamphetamine".
- - Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,4394gam, loại Methamphetamine".
Tại bản kết luận giám định số: 2900/KL-KTHS, ngày 29/12/2023 của phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,2052gam, loại Methamphetamine".
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các bị can: A S1 và A Bin N1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Trung H1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự để điều tra, xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra xác định được hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Nguyễn Văn K, Nguyễn Trung H1 và Nguyễn Đức T1 là bạn và đều nghiện ma túy đá. Khoảng 16 giờ ngày 20/12/2023, K sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen gắn sim số 0368821017 truy cập vào mạng xã hội Zalo tên “ Kha Khù K1" nhắn tin cho  (không biết tên thật, địa chỉ) tên Z “H” hỏi mua 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá thì  đồng ý bán và hẹn K đến khu vực ấp T, xã H 3, huyện T để mua bán ma túy. Sau đó, K mượn xe mô tô biển số 60H4-5504 của bà Lê Thị N (mẹ ruột của K) đến khu vực ấp T, xã H 3 gặp  để mua ma túy (khi mượn xe K nói công việc). Tại đây, K đưa cho  500.000 đồng,  nhận tiền và chỉ cho K đến cây cột điện gần đó lấy 01 gói ma túy đá, nhận ma túy xong K xóa lịch sử cuộc gọi, tin nhắn với  rồi đi về nhà. Về đến nhà, K lấy một ít ma túy ra sử dụng một mình, số còn lại K phân ra thành 03 gói ma túy nhỏ hơn rồi cất giấu trong ví da màu đen. Khoảng 20 giờ ngày 20/12/2023, S1 đến nhà gặp và mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) của K mang về phòng trọ ở ấp B, xã B, huyện T để sử dụng một mình.
Khoảng 22 giờ ngày 21/12/2023, sau khi ăn nhậu tại phòng trọ của S1 xong thì A Bin N1 và S1 rủ nhau góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma tuý đá về sử dụng. Sau đó, S1 sử dụng điện thoại hiệu Oppo màu đen gắn sim số 0332946416 liên lạc vào số 0368.821.xxx của K hỏi mua 200.000 đồng ma túy nhưng K nói bán 01 gói ma túy với giá thấp nhất là 300.000 đồng, do N1 không còn tiền nên S1 đồng ý ứng 100.000 đồng cho đủ 300.000 đồng tiền mua ma túy, khi nào có tiền N1 sẽ trả lại cho S1 sau. Sân mượn xe mô tô biển số 36M1-6349 của anh T5 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) rồi điều khiển xe chở N1 đi đến nhà K ở ấp T, xã H 3, huyện T, N1 ngồi ghế trong sân để trông xe, còn S1 cầm 300.000 đồng vào trong nhà gặp K mua ma túy. Khi S1 đi đến thì K đưa cho H1 01 gói nylon chứa ma túy đá để bán cho S1 (lúc này H1 đang ở nhà K chơi), S1 đưa 300.000 đồng cho H1 thì H1 đưa gói ma túy đá cho S1. Sau khi mua ma túy, S1 điều khiển xe 36M1-6349 chở N1 ngồi sau cầm ma túy quay về phòng trọ của S1, trên đường về Sân liên lạc hỏi mua “nồi” (nỏ thủy tinh) của “Ân” (không rõ nhân thân lai lịch) thì Â đồng ý bán bộ “nồi” với giá 50.000 đồng và sẽ giao hàng tại nhà thờ P, xã B. Đến 23 giờ ngày 21/12/2023, khi S1 điều khiển xe mô tô biển số 36M1-6349 chở Nghị lưu thông trên đường N (khu N), thuộc thôn Đ, ấp B, xã B thì bị Công an xã B tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra, lúc này S1 nói với N1 bằng tiếng dân tộc Rơ Ngao với nội dung “thả thả thả”, N1 hiểu ý nên vứt số ma túy mới mua đang cầm trong tay xuống đường ngay chỗ dừng xe nhưng bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Khoảng 08 giờ ngày 22/12/2023, T1 đến nhà K chơi, K nhờ T1 liên lạc mua 2.400.000 (hai triệu bốn trăm ngàn đồng) ma túy của M (không rõ nhân thân lai lịch) giúp cho K, T1 nói K cho T1 góp 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) để mua ma túy chung về phân nhỏ bán lại kiếm lời thì K đồng ý, tổng số tiền của K và T1 là 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng). T1 sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen số sim 0965.012.612 liên lạc mua 3.900.000 đồng ma túy của M, M đồng ý và hẹn đến công viên B, thành phố B để giao nhận ma tuý. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, K liên lạc rủ H1 đến chơi thì H1 điều khiển xe mô tô biển số 60B8-89428 đến nhà K. Sau đó, K đưa 3.900.000 đồng (tiền của K và T1 góp để mua ma túy) cho H1 và nói H1 đến công viên B, thành phố B gặp M mua ma túy mang về cho K thì H1 đồng ý, H1 cầm tiền đến thành phố B mua được 01 gói ma túy với giá 3.900.000 đồng về đưa cho K, K đưa cho T1 phân nhỏ gói ma túy trên thành 16 (mười sáu) gói ma túy nhỏ hơn với mục đích để bán lại kiếm lời. Phân ma túy xong, T1 đưa 15 gói ma túy mới phân cho K, K cầm ma túy cất dưới gầm tủ sắt quần áo. Khoảng 16 giờ ngày 22/12/2023, K, T1 và H1 đang ăn bún ở trong nhà thì Công an đến khám xét, T1 nhìn thấy 01 gói nylon chứa ma tuý còn sót dưới nền nhà nên đã cầm và bỏ chạy ra ngoài ném xuống đất nhưng vẫn bị phát hiện thu giữ, còn K và H1 đi ra phòng khách. Qua khám xét phát hiện trong phòng ngủ của K có: 01 ví da màu đen của K để trên bàn trang điểm bên trong có 01 gói nylon chứa ma tuý; dưới gầm tủ sắt sát tường có 15 (mười lăm) gói nylon chứa ma tuý đá; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm: 01 bình nhựa đựng nước có nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa, 01 lỗ cắm nỏ thuỷ tinh nhưng bị vỡ phần đựng ma tuý) và dụng cụ để phân chia ma túy.
Tại Cáo trạng số: 181/CT-VKS-TB ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo A S1 và A Bin N1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điển b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Trung H1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điển i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K với mức án từ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Trung H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Trung H1 với mức án từ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo A S1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo A S1 với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo A B1 Nghị phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo A Bin N1 với mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy với 02 phong bì niêm phong ma túy sau giám định số: 2899/KL-KTHS và số: 2900/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (gồm: 01 bình nhựa đựng nước có nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa, 01 lỗ cắm nỏ thuỷ tinh nhưng bị vỡ phần đựng ma tuý); 01 cân tiểu ly; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa;
- + Đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng, gắn sim số: 0332946416 của Sân; 01 điện thoại hiệu Iphone 6S màu xám gắn sim số 0368821017 của K; 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60B8-89428 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen gắn sim số 0969646804 của H1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen số sim 0965.012.612 của T1 dùng vào việc phạm tội;
- + Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 36M1-6349. Kết quả tra cứu xác định biển số xe 36M1-6349 là của xe nhãn hiệu SOLID do Lại Văn G, địa chỉ: X, xã H, TX B, tỉnh Thanh Hóa đứng tên đăng ký, hiện nay chưa làm việc được với Lại Văn Giáp. Bị cáo A S1 khai nhận mượn xe mô tô biển số 36M1-6349 của anh T5 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nên chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo A S1, A Bin N1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Trung H1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố là đúng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo A S1, A Bin N1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Trung H1 không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[1.2] Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 20/12/2023, tại ấp T, xã H 3, huyện T, Nguyễn Văn K bán cho A S1 01 gói ma túy giá 300.000 đồng. Đến ngày 21/12/2023, K và Nguyễn Trung H1 bán 01 gói ma túy có khối lượng 0,2052 gam loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng cho A S1 và A Bin N1, khi S1 và N1 mang ma túy về đến ấp B, xã B, huyện T thì bị Công an xã B, huyện T bắt quả tang. Đến ngày 22/12/2023, K và Nguyễn Đức T1 cùng góp số tiền 3.900.000 đồng nhờ H1 mua 01 gói ma túy có khối lượng 8,472 gam loại Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời thì bị lực lượng Công an khám xét phát hiện thu giữ tại nhà của K ở ấp T, xã H 3, huyện T. Hành vi của các bị cáo A S1 và A Bin N1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung H1 và bị cáo Nguyễn Đức T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố là có căn cứ.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Nhà nước ta nghiêm cấm các hành vi chứa chấp, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cung cấp chất ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho người khác sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc kỹ.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; gia đình bị cáo K, bị cáo T1 và bị cáo H1 có hoàn cảnh khó khăn (Có đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên sẽ được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng tương ứng với từng bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
[5.1] Tịch thu tiêu hủy đối với 02 phong bì niêm phong ma túy sau giám định số: 2899/KL-KTHS và số: 2900/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (gồm: 01 bình nhựa đựng nước có nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa, 01 lỗ cắm nỏ thuỷ tinh nhưng bị vỡ phần đựng ma tuý); 01 cân tiểu ly; 01 kéo bằng kim loại và 01 bật lửa.
[5.2] Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng, gắn sim số: 0332946416 của Sân; 01 điện thoại hiệu Iphone 6S màu xám gắn sim số 0368821017 của K; 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60B8-89428 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen gắn sim số 0969646804 của H1 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen số sim 0965.012.612 của T1 dùng vào việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
[5.3] Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 36M1-6349. Kết quả tra cứu xác định biển số xe 36M1-6349 là của xe nhãn hiệu SOLID do anh Lại Văn G, địa chỉ: X, xã H, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đứng tên đăng ký, hiện nay chưa làm việc được với Lại Văn Giáp. Bị cáo A S1 khai nhận mượn xe mô tô biển số 36M1-6349 của anh T5 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nên chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
[6] Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với “Hoàng Ân” và “Mẫn” bán ma tuý cho K và “Â” là người A Sân liên hệ mua nỏ sử dụng ma túy, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của “Hoàng Ân”, “Mẫn” và “Ân” nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[8] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
1.2. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T1 và bị cáo Nguyễn Trung H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
1.3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo A S1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo A S1 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
1.4. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo A Bin N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo A Bin N1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian giam giữ trước đó (từ ngày 21/12/2023 đến ngày 31/12/2023).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng, gắn sim số: 0332946416 của Sân; 01 điện thoại hiệu Iphone 6S màu xám gắn sim số 0368821017 của K; 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60B8-89428; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen gắn sim số 0969646804 của H1 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen số sim 0965.012.612.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Trung H1, A S1 và A B1 Nghị mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Trung H1, A S1 và A Bin N1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 218/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bán 02 lần
