Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 218/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 – 7 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn

và nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Tiến Bộ.

- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:150/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 99/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1977.

Nơi cư trú: số nhà F, ngõ B, Tô Vĩnh D, khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu.

- Bị đơn: anh Nguyễn Quang G, sinh năm 1972.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.

Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T – Bộ C. Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai Nguyễn Thị S trình bày:

Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Quang G có tìm hiểu, và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã P năm 1999. Sau khi kết hôn anh, chị về chung sống tại gia đình anh G ở xã P, quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, cho đến năm 2006 do làm ăn khó khăn, vợ chồng bàn nhau lên Lai châu để làm ăn, thời gian sinh sống tại Lai Châu anh G bắt đầu chơi bời, giao lưu và có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, sau đó anh G có hành vi phạm tội cướp của, giết người và bị Tòa án Lào Cai xử phạt 25 năm tù giam. Hiện anh G đang chấp hành án tại Trại giam T. Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Chị S xác nhận giữa hai anh chị không có sự san sẻ nghĩa vụ, trách nhiệm vợ chồng và chị không còn tình cảm gì với anh G. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh G để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: anh, chị có 02 con chung: Nguyễn Quang D1, sinh năm 2001 và Nguyễn Thu H, sinh ngày 28/9/2006. Cháu D1 đã trưởng thành, tự lập, đi làm có công việc nên không yêu cầu Tòa án xem xét, còn cháu H hiện đang ở với chị. Vợ chồng ly hôn chị S xin nuôi cháu H và không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ chung: chị S trình bày vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung.

Về phía bị đơn: Tại bản khai của anh Nguyễn Quang G do Trại giam gửi về có nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận anh có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với chị Nguyễn Thị S, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P năm 1999. Quá trình chung sống, tuy tình cảm vợ chồng không được sâu sắc, nhưng đây không phải là nguyên nhân để ly hôn, mà cho đến khi anh vi phạm pháp luật và bị tuyên án 25 năm tù về tội giết người, cướp tài sản, thì anh xác định sẽ có ngày phải giải quyết ly hôn. Nay chị S xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo nguyện vọng cho chị S.

Về con chung: Có 02 con chung như chị S trình bày. Do hiện anh đang chấp hành hình phạt tù nên không thể chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Vợ chồng ly hôn, anh nhất trí giao con chung cho chị S nuôi.

Về tài sản, nợ chung: anh trình bày không có tài sản chung và công nợ chung vợ chồng.

Tại phiên tòa: Các đương sự đều xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã làm đúng quy trình tố tụng, không có vi phạm gì, đã xác định đúng tư cách của đương sự, giải quyết đúng thời hạn của vụ án. Về thời hạn chấp hành theo quy định pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành theo quy định pháp luật của các đương sự, trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn: chấp hành đúng quy định tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quết vụ án do đi chấp hành án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Quang G; về con chung: anh chị có 02 con chung: Nguyễn Quang D1, sinh năm 2001 và Nguyễn Thu H, sinh ngày 28/9/2006. Đối với cháu D1 đã trưởng thành, tự lập nên không xem xét; còn cháu H sau ly hôn tiếp tục giao cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận sự tự nguyện chị S không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi các đương sự có yêu cầu mới về người trực tiếp nuôi con và trợ cấp nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét;

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị S khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Quang G có hộ khẩu thường trú tại: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Quang G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện M, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) ngày 15/11/1999 nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của chị S, anh G: Xác định giữa hai anh chị từ lâu đã không tồn tại quan hệ vợ chồng, hai bên không san sẻ nghĩa vụ trách nhiệm vợ chồng kể từ năm 2006 khi anh G chấp hành hình phạt tù tại Trại Giam T, chị S xác nhận không còn tình cảm gì với anh G và đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn, anh G cũng nhất trí. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị S là phù hợp với quy định tại Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh, chị có 02 con chung: Anh Nguyễn Quang D1, sinh năm 2001 và Nguyễn Thu H, sinh ngày 28/9/2006; Anh D1 đã trưởng thành, tự lập nên không xem xét; còn cháu H hiện đang ở với chị S. Xét yêu cầu xin tiếp tục nuôi con chung của chị S cũng như quan điểm của anh G đồng ý nhát trí để chị S tiếp tục nuôi dưỡng cháu H do hiện tại anh G không đủ điều kiện nuôi con chung. Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu này của chị S là không trái pháp luật; ghi nhận sự tự nguyện của chị S không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thu H cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi các đương sự có yêu cầu về thay đổi người nuôi con và trợ cấp nuôi con chung.

[4] Về tài sản và nợ chung vợ chồng: Các đương sự trình bày không có nên không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị S.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Nguyễn Quang G.
  2. Về con chung: chị Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Quang G có 02 con chung: Nguyễn Quang D1, sinh năm 2001 đã trưởng thành, tự lập và Nguyễn Thu H, sinh ngày 28/9/2006. Giao cháu H cho chị S tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; ghi nhận sự tự nguyện chị S không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị S đến khi cháu H đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
  3. Anh Nguyễn Quang G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Các đương sự trình bày không có.
  5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007864 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDTP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã (nơi đăng ký kết hôn);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 218/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn S-G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger