Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 218/2024/HS-ST

Ngày: 16/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhã
Thẩm phán: Ông Trần Đức Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy
Bà Vũ Thị Cự
Ông Nguyễn Hồ Phong

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/HSST-QĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1979; giới tính: nữ: ĐKHKTT: căn D-11B4-8 tòa D khu chung cư và T5, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: P - R4 chung cư G, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo; không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh T1 và bà Trương Thị T2; có chồng và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 26/10/2023 theo Quyết định của Ủy ban kiểm tra Quận ủy B; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023 đến nay (Trại tạm giam số 1); có mặt.

Người bào chữa: Luật sư Đào Trung K thuộc Công ty L; có mặt.

Bị hại:

1. Chị Chử Thị Thùy D, sinh năm 1990; ĐKHKTT: Tổ dân phố C, P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: LK03 A, phường P, quận N, Thành phố Hà Nội; có mặt.

2. Ông Trần Huy C, sinh năm 1954; chỗ ở: số B ngõ A, phường Q, quận Đ, Thành phố Hà Nội; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hồ Nhật M, sinh năm 1972; nơi cư trú: căn D-11B4-8 tòa D khu chung cư và T5, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2022, thông qua các mối quan hệ xã hội, chị Chử Thị Thùy D quen biết với Nguyễn Thị Kim T. T giới thiệu hiện đang công tác tại Cục V – Bộ C2. Khoảng tháng 7/2022, T giới thiệu với chị D có khả năng xin vào công chức ngành Công an và công chức Văn phòng Chính phủ hoặc các cơ quan Nhà nước khác. T nói hiện có các suất xin vào làm lái xe của Bộ C2, chi phí 300.000.000 đồng và 01 suất làm nhân viên Văn phòng C3, chi phí 450.000.000 đồng. Chị D có bàn bạc với gia đình, thống nhất nhờ T xin cho chị D vào làm việc tại Văn phòng C3 và xin cho anh Trần Duy T3 (là em họ chị D) làm lái xe cho Cục H. Gia đình chị D nhất trí xin 2 công việc trên và chuyển trước cho T số tiền 600.000.000 đồng. Từ ngày 7/7/2022 đến ngày 20/7/2022, chị D đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 300.000.000 đồng qua số tài khoản 13324927125012 ngân hàng T6, mang tên Nguyễn Thị Kim T để nhờ T xin việc làm cho chị D tại Văn phòng Chính phủ, cụ thể: Ngày 7/7/2022, chị D chuyển khoản cho T số tiền: 100.000.000 đồng; Ngày 11/7/2022, chị D chuyển khoản cho T số tiền: 100.000.000 đồng; Ngày 20/7/2022, chị D chuyển khoản cho T số tiền: 100.000.000 đồng.

Cũng trong tháng 7/2022, T đưa cho chị D 02 quyển lý lịch tuyển dụng vào ngành Công an, bảo đưa cho người nhà khai thông tin rồi xin xác nhận của chính quyền địa phương và chuyển lại cho T. Chị D đã đưa 02 quyển lý lịch trên cho ông Trần Huy C (là bố đẻ của anh Trần Duy T3) để anh T3 viết lý lịch và xin xác nhận của chính quyền địa phương. Sau đó ông C đã đưa lại 02 quyển lý lịch trên và số tiền 300.000.000 đồng cho chị D. Chị D nhận và giao 02 quyển lý lịch cùng số tiền 300.000.000 đồng để nhờ T xin cho anh T3 vào làm lái xe tại Cục H – Bộ C2. Sau khi nhận tiền, T viết giấy biên nhận và đưa cho chị Dương g, cam kết nếu trong ba tháng không xin được việc sẽ hoàn trả tiền.

Sau khi nhận tiền của chị D, T không liên hệ với ai để nhờ xin việc cho chị D, anh T3 mà đã chi tiêu cá nhân hết và vứt bỏ 02 quyển lý lịch của anh T3. Khoảng ba tháng sau, chị D liên lạc hỏi thì T nói công việc chưa xong. Tiếp đó T lấy nhiều lý do để trì hoãn. Tháng 11/2022, thấy T không xin được việc nên chị D yêu cầu trả lại tiền. Thoa hẹn một tháng sau sẽ trả tiền cho chị D nhưng đến hẹn không trả. Do T không trả tiền, chị D đã tự bỏ tiền cá nhân số tiền 300.000.000 đồng trả lại cho ông Trần Huy C. Ngày 28/12/2022, chị D hẹn gặp T tại quán C4, tòa CT4, đường L, phường M, quận N, Hà Nội, yêu cầu T viết giấy nhận tiền ghi ngày 01/7/2022 và 01 giấy cam kết hẹn ngày 19/01/2023 trả chị D số tiền 300.000.000 đồng và hẹn ngày 30/4/2023 trả chị D số tiền 300.000.000 đồng. Sau đó, chị D liên lạc với T nhiều lần để lấy lại tiền nhưng T không trả và cắt liên lạc với chị D. Ngày 14/2/2023, chị D đã gửi đơn tố giác hành vi vi phạm của Nguyễn Thị Kim T.

Bản Kết luận giám định số 2463/KL-KTHS ngày 29.5.2023 của V1 - Bộ C2 kết luận: Các dấu vân tay in cạnh chữ ký, chữ viết ghi tên Nguyễn Thị Kim T trên giấy nhận tiền lập ngày 1/7/2022, giấy viết tay nội dung cam đoan trả tiền ghi ngày 28/12/2022 có chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Kim T với các dấu vân tay trên bản thu mẫu dấu vân tay ngón trỏ trái và ngón trỏ phải của Nguyễn Thị Kim T là của cùng một người.

Bản Kết luận giám định số 2453/KL-KTHS ngày 15.6.2023 của V1 - Bộ C2 kết luận: Chữ ký, chữ viết dưới mục bên nhận tiền trên giấy nhận tiền và chữ ký, chữ viết trên bản cam kết trả tiền của Nguyễn Thị Kim T so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Kim T trên bản tường trình, bản tự khai là do cùng một người viết và ký ra.

Cục V – Bộ C2 (Cục H1) cung cấp: Nguyễn Thị Kim T là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, vào đảng ngày 16/01/2003, có thời gian công tác tại Phòng 4, Cục H1 từ tháng 12/2004 đến tháng 12/2022; ngày 16/12/2022, Cục V và cơ yếu đã ban hành Quyết định số 785/QĐ-H04-P2 về việc hưởng chế độ hưu trí kể từ ngày 01/01/2023, hiện không thuộc quản lý của H04.

Cục H - Bộ C2 có công văn trả lời: Trong thời gian từ tháng 7/2022 đến tháng 12/2022, Cục H có thông báo tuyển lao động hợp đồng không xác định thời hạn làm việc lái xe theo chỉ tiêu đã được Lãnh đạo Bộ phê duyệt năm 2022. Nhưng không tiếp nhận hồ sơ xin tuyển lao động hợp đồng làm lái xe ô tô đối với anh Trần Duy T3.

Văn phòng C3 có công văn trả lời: Trong thời gian từ tháng 7/2022 đến tháng 12/2022, Văn phòng C3 không nhận hồ sơ xin tuyển dụng của bà Chử Thị Thùy D.

Chị Chử Thị Thùy D đã hoàn trả cho ông Trần Huy C số tiền 300.000.000 đồng, đến nay ông C không yêu cầu gì về dân sự.

Từ ngày 30/6/2023 đến ngày 30/7/2023, T nhiều lần trả lại cho chị D tổng số tiền 300.000.000 đồng. Từ tháng 9/2023, T đăng ký số tài khoản nhận lương hưu số tiền 8.914.700 đồng/tháng của T là số tài khoản ngân hàng của anh Trần Xuân T4 (là chồng chị D) để trả nợ cho chị D. Đến nay T đã trả cho chị D tổng số tiền 353.488.200 đồng. Số tiền 246.511.800 đồng T còn nợ lại, hàng tháng T sẽ trả cho chị D bằng lương hưu của T. Chị D và T tự thỏa thuận giải quyết bồi thường dân sự, không yêu cầu đề nghị gì.

Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKS–P3 ngày 31/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết.

- Bị hại không có ý kiến gì về tội danh và khung hình phạt tuy tố và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Trần Huy C xác nhận chị D đã trả lại 300.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.

Chị Chử Thị Thùy D xác nhận bị cáo đã trả lại 300.000.000 đồng. Số tiền 300.000.000 đồng còn lại chị D và bị cáo tự thỏa thuận bị cáo sử dụng lương hưu trả dần theo tháng. Chị D không yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án.

- Anh Hồ Nhật M không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường thay.

- Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 08 đến 09 năm tù.

- Người bào chữa cho bị cáo đồng ý tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã ăn năn hối cải để xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]Về trách nhiệm hình sự.

Lời khai của bị cáo tại tiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng tháng 7/2022, Nguyễn Thị Kim T đã đưa ra thông tin gian dối với chị Chử Thị Thùy D về việc bản thân có nhiều mối quan hệ có thể xin vào làm nhân viên Văn phòng C3, làm lái xe tại Cục Hậu cần Bộ C2. Tin vào những thông tin bị cáo đưa ra, chị D giao cho bị cáo 600.000.000 đồng để xin cho anh Trần Duy T3 vào làm lái xe tại Cục Hậu cần Bộ C2, xin cho chị D vào làm nhân viên Văn phòng C3 (trong số 600.000.000 đồng giao cho bị cáo có 300.000.000 đồng của ông Trần Huy C giao để xin việc cho anh T3). Sau khi nhận 600.000.000 đồng, bị cáo không liên hệ với ai để xin việc làm cho chị D, anh T3 như đã hứa hẹn mà chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân hết.

Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị Kim T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội, bị cáo chiếm đoạt số tiền lớn. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tưng xứng mới đủ sức giáo dục, răn đe cũng như mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu trong tình hình hiện nay.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Thị Kim T thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn ăn, hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, đã bồi thường thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng đểm giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[3] Về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Chị Chử Thị Thùy D tự bỏ tiền trả lại ông Trần Duy C1 300.000.000 đồng, ông C1 không có yêu cầu gì khác.

Quá trình điều tra, bị cáo T đã trả lại chị D 300.000.000 đồng. Đối với số tiền 300.000.000 đồng còn lại, chị Dương t thỏa thuận bị cáo sử dụng tiền lương hưu để trả dần theo tháng, chị D không yêu gì khác, không yêu cầu giải quyết trong vụ án. Như vậy, bị cáo và chị D đã tự thỏa thuận về bồi thường nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

Anh Hồ Nhật M không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường thay bị cáo nên không xem xét trong vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị Kim T 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2023.

2. Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Hà Nội;
  • - Công an Tp. HΝ;
  • - Cục THADS T.p Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ
  • - Lưu HS, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Nhã

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 218/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger