|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 218/2023/HS-ST Ngày: 13-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thị Nga
- Ông Nguyễn Văn Quản
- Thư ký phiên toà: ông Triệu Việt Anh Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hạo - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 292/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1094/2023/QĐXXSTngày 17/10/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1982; Nơi sinh: tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn D, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết), con bà Đặng Thị N1, sinh năm 1951; Vợ Nguyễn Thị H (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/9/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điều 173 BLHS. Chấp hành án tại Trại giam B2 đến ngày 17/01/2005 chấp hành án xong (đã xóa án tích).
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2023 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Bà Lê Thị T, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: 114/178 đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Huỳnh Gia B, sinh năm 1998
Nơi cư trú: 8 X, phường X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 14/01/2023 Nguyễn Văn L đi bộ từ khách sạn “Việt T1 3”, địa chỉ số: 348, đường N, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày thì L phát hiện xe mô tô, hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 59T1-538.59 của chị Lê Thị T để trước nhà số A, đường T, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do không có người trông coi nên L đi bộ đến dùng tua vít, đầu dẹp, dài khoảng 10 cm để mở ổ khóa xe nhưng không nổ được máy xe nên L đẩy xe đi về hướng đường L, phường T, Quận A tẩu thoát.
Sau khi sự việc xảy ra, chị Lê Thị T đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 78 ngày 10/02/2003 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: Xe mô tô, hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 59T1-538.59, có trị giá là 10.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an Q đã thu giữ vật chứng đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
Sau khi lấy được xe mô tô, hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 59T1-538.59 của chị Lê Thị T thì L dẫn bộ xe mô tô đi đến trước địa chỉ số: 21/5, đường L, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì L thấy Hoàng Gia B1, sinh năm: 1998, HKTT: 111, đường T, khu phố A, phường T, Quận A, là nhân viên giao hàng, đang dừng xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xám, biển số: 59T2-493.69 bên lề đường trước địa chỉ trên ngồi nghe điện thoại di động. Lúc này, L nói với B1 là “em đẩy giúp xe anh ra tiệm sửa xe rồi anh gửi tiền cho em” thì B1 đồng ý. Sau đó, B1 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vario, màu xám, biển số: 59T2-493.69 dùng chân đẩy phía bên trái xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển số: 59T1-538.59, còn L ngồi trên xe. Khi đi đến trước địa chỉ: A, đường L, khu phố A, phường T, Quận A thì B1 nói với L “em đẩy xe yếu” nên B1 nói L để B1 qua điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 59T1-53859, còn L qua điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vario, biển số: 59T2-493.69 của B1 thì cả hai đồng ý. L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario biển số: 59T2-493.69 đẩy xe đi được một đoạn khoảng 2km, khi đến trước địa chỉ số:125, đường D, Tổ A, Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì L có ý định chiếm đoạt xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vario, màu xám, biển số: 59T2-493.69 của B1 nên L điều khiển tăng ga xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vario, biển số: 59T2-493.69 của B1 chạy thoát, bỏ lại xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 59T1-53859 mà L trộm cắp của chị T trước đó.
Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô của anh Hoàng Gia B1 thì L sử dụng điện thoại tìm người mua xe mô tô trên mạng và chạy xe mô tô đến ngã tư G để cho khách xem xe, tại khu vực Ngã tư G thuộc phường B, Quận B. L gặp 02 người thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha N2 (không rõ biển số) đến xem xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vario, biển số: 59T2-493.69 và bán xe mô tô trên, với giá 5.500.000₫ thì L đồng ý nhận tiền và giao xe cho 02 (hai) thanh niên điều khiển đi đâu không rõ.
Sau khi sự việc xảy ra, anh Hoàng Gia B1 đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc. Qua xác minh, truy xét đến ngày 16/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an Q xác định được Nguyễn Văn L là người thực hiện 02 vụ án như trên nên khởi tố và tạm giam để phục vụ cho việc điều tra.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ việc nêu trên và nộp lại số tiền 5.000.000 đồng (tiền bán xe) cho Công an Q tạm giữ. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an Q tiến hành nhận dạng, dựng lại hiện trường hành vi phạm tội. Kết quả phù hợp với lời khai của đối tượng, người bị hại cũng như các tài liệu có liên quan.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 78 ngày 10/02/2003 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số: 59T2-493.69, có trị giá là 32.500.000 đồng.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen
- Tiền Ngân hàng N3 5.000.000 đồng
- 01 áo khoác dài tay màu đen, 01 quần dài (tạm giữ của Nguyễn Văn L).
Phần dân sự:
Chị Lê Thị T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường, anh Hoàng Gia B1 yêu cầu Nguyễn Văn L bồi thường 35.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 220/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173 và Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 đến đến 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về cướp giật tài sản. Tổng hợp hình phạt hai tội từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường, anh Hoàng Gia B1 yêu cầu Nguyễn Văn L bồi thường 35.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo L đồng ý bồi thường cho anh B1 số tiền 35.000.000 đồng. Bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản băt người phạm tội quả tang, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định:
Ngày 14/01/2023, Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô, hiệu Honda Wave, màu đen, biển số 59T1-538.59, trị giá 10.000.000 đồng của chị Lê Thị T, tại khu vực trước nhà số A, đường T, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và thực hiện hành vi cướp giật xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vario, màu xám, biển số: 59T2-493.69, có giá 32.500.000 đồng của anh Hoàng Gia B1, tại trước địa chỉ số A, đường D, tổ A, khu phố H, phường T, Quận A.
Do đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự và tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, cần xử lý nghiêm theo pháp luật, các ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra chiếc xe mô tô bị cáo trộm cắp của chị Lê Thị T đã được thu hồi trả cho người bị hại, nên cần áp dụng tinh tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với 02 người thanh niên (không rõ lai lịch) mua xe mô tô do Nguyễn Văn L đem bán Cơ quan CSĐT Công an Q sẽ tiến hành xác minh, khi nào làm rõ đề nghị xử lý sau.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen, 01 quần dài là trang phục của Nguyễn Văn L mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen là điện thoại bị cáo L dùng khi thực hiện tội phạm nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền Ngân hàng N3 5.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Chị Lê Thị T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
Anh Hoàng Gia B1 yêu cầu Nguyễn Văn L bồi thường 35.000.000 đồng. Bị cáo L đồng ý bồi thường cho anh B1 số tiền 35.000.000 đồng.
Cần buộc bị cáo L bồi thường cho bị hại anh B1 số tiền 35.000.000 đồng. Quá trình điều tra cơ quan công an thu giữ của bị cáo số tiền 5.000.000 đồng, cần sử dụng số tiền này bồi thường cho anh B1. Vì vậy bị cáo L còn phải bồi thường tiếp cho anh B1 số tiền là 30.000.000 đồng.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo L phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2023.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, 01 quần dài.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 199/QĐ-VKS, ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng cho anh Huỳnh Gia B. Anh Huỳnh Gia B được nhận số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng – thu giữ của bị cáo) theo phiếu thu số 136 ngày 13/4/2023 của công an Q. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho anh Huỳnh Gia B 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày anh Huỳnh Gia B có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị cáo Nguyễn Văn L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thâm.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn L, bị hại anh Huỳnh Gia B có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại Lê Thị Thanh vắng m tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Thị Thùy Trang |
|
Hội thẩm nhân dân Bà Lâm Thị Nga |
Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 218/2023/HS-ST ngày 13/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản)
- Số bản án: 218/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Lương
