|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 218/2024/KDTM-ST Ngày: 13-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Phước
- Ông Lê Văn Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2023/TLST-KDTM ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 772/2024/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Liên doanh V
Địa chỉ trụ sở: G T, Phường T, quận H, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Hà Duy N, sinh năm 1988 và ông Đặng Bá H, sinh năm 1992
Cùng địa chỉ: Tầng trệt, tầng M, tầng 1 Cao ốc Văn phòng Saigon Prime, số A N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền số 768/QĐ-KTTH ngày 23/7/2024).
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T
Địa chỉ trụ sở: 128/4 B, phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Vũ Hưng B, sinh năm 1964, đã chết ngày 25/6/2022.
Thành viên công ty gồm:
- Bà Cao Thị Ngọc Â, sinh năm 1994
- Bà Trần Lệ X, sinh năm 1988
Địa chỉ thường trú: A P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cư trú: G C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ thường trú: Khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ cư trú: Căn hộ S, chung cư E P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn Ngân hàng Liên doanh V1 trình bày:
Ngày ngày 30/3/2021 Ngân hàng Liên doanh V1 (kể từ sau gọi là Ngân hàng V1) và Công ty Cổ phần T (kể từ sau gọi là Công ty T) ký hợp đồng tín dụng số 42/2021/HĐTD, ngày 21/10/2021 hai bên ký Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 220/2021/PLHĐTD, với nội dung cụ thể như sau:
- - Số tiền vay: 3.272.000.000 đồng.
- - Mục đích vay: Thanh toán tiền mua 05 ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R32-40, 17 chỗ, sản xuất năm 2019, mới 100% nhập khẩu từ Nga để phục vụ hoạt động kinh doanh của công ty.
- - Thời hạn vay: 60 tháng
- - Lãi suất: lãi suất cố định 9,4%/năm trong vòng 12 tháng đầu tiên; các năm tiếp theo lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm, lãi suất được điều chỉnh bằng tiền gửi các nhân kỳ hạn 12 tháng bằng VNĐ, trả lãi sau của V2+biên độ 0,3%/năm.
- - Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
- - Lãi suất chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- - Phí phạt trả nợ trước hạn: 02 năm đầu là 2% nhân với số tiền thanh toán trước hạn, năm thứ 3 là 1% nhân với số tiền thanh toán trước hạn, thời gian còn lại là miễn phí.
- - Phương thức trả nợ: Nợ gốc và lãi trả hàng tháng, số tiền lãi tính trên dư nợ gốc thực tế.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ sau:
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.80, số khung: X96A65R32K0871771, số máy: ISF28S4R14876110416, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020038 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.94, số khung: X96A65R32K0871511, số máy: ISF28S4R14876098469, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020058 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.22, số khung: X96A65R32K0871630, số máy: ISF28S4R14876110315, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020035 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.15, số khung: X96A65R32K0872463, số máy: ISF28S4R14876099634, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020036 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.97, số khung: X96A65R32K0871757, số máy: ISF28S4R14876110510, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020040 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
Tạm tính đến ngày 31/5/2023, Công ty T còn nợ số tiền 2.715.495.383 đồng, trong đó tiền nợ gốc 2.452.494.369 đồng và tiền nợ lãi 263.001.014 đồng. Ngân hàng V đã nhiều lần mời đại diện Công ty T lên làm việc, gửi thông báo đề nghị trả nợ. Tuy nhiên, Công ty T không có thiện chí hợp tác, né tránh và không thực hiện các nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng.
Do đó, Ngân hàng V khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty T phải thanh toán tiền nợ tạm tính đến ngày 31/5/2023 gồm: Tiền nợ gốc 2.452.494.369 đồng và tiền nợ lãi 263.001.014 đồng, đồng thời yêu cầu tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 31/5/2023 cho đến khi bị đơn trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Trường hợp, Công ty T không trả được nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành phát mãi tài sản mà bị đơn đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ.
Căn cứ Công văn số 388/UBND ngày 29/5/2024 của Ủy ban nhân dân Phường G, quận T xác định ông Vũ Hưng B là người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã chết ngày 25/6/2022.
Căn cứ Công văn số 8933/ĐKKD-T6 ngày 17/11/2023 của Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H xác định Công ty Cổ phần T có 03 cổ đông sáng lập là ông Vũ Hưng B, bà Trần Lệ X và bà Cao Thị Ngọc Â.
Bà Cao Thị Ngọc  thành viên Công ty T trình bày: Do quan hệ quen biết nên ông Vũ Hưng B nhờ bà  tham gia làm thành viên Công ty T do ông B là người đại diện theo pháp luật. Trên thực tế bà  không góp vốn, không tham gia vào các hoạt động gì của Công ty T, mọi hoạt động của Công ty T đều do ông Vũ Hưng B quyết định và chịu trách nhiệm.
Sau khi ông Vũ Hưng B chết thì bà Â được biết Công ty T không còn hoạt động, cũng không họp cổ đông để chọn người đại diện theo pháp luật mới.
Đối với việc thanh toán công nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V thì bà Â xác định: Việc vay tiền là do ông Vũ Hưng B trực tiếp quyết định, bà Â không được thông báo cũng không được hưởng lợi gì từ việc vay tiền này. Do đó, đề nghị Tòa án không triệu tập bà Â tham gia tố tụng cũng đề nghị không chỉ định bà làm người đại diện theo pháp luật thay thế ông B. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Bà Trần Lệ X thành viên Công ty T trình bày: Do có quan hệ quen biết nên ông Vũ Hưng B nhờ bà X tham gia làm thành viên Công ty T do ông B là người đại diện theo pháp luật. Trên thực tế bà X không góp vốn, không tham gia vào các hoạt động của Công ty T, cũng không biết thành viên còn lại là ai.
Đối với việc thanh toán công nợ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà X xác định: Việc vay tiền là do ông Vũ Hưng B trực tiếp quyết định, bà X không được thông báo cũng không được hưởng lợi gì từ việc vay tiền này. Do đó, đề nghị Tòa án không triệu tập bà tham gia tố tụng cũng đề nghị không chỉ định bà làm người đại diện theo pháp luật thay thế ông B.
Tại phiên tòa hôm nay:
Ông Đặng Bá H đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng V trình bày: Ngân hàng V vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Công ty T có trách nhiệm thanh toán tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 13/9/2024 là 3.130.633.094 đồng, trong đó tiền nợ gốc 2.452.494.369 đồng và tiền nợ lãi 678.138.725 đồng. Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 14/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi Công ty T thanh toán hết nợ
Trường hợp, Công ty T vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì đề nghị được phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng V1 gồm:
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.80, số khung: X96A65R32K0871771, số máy: ISF28S4R14876110416, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020038 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.94, số khung: X96A65R32K0871511, số máy: ISF28S4R14876098469, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020058 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.22, số khung: X96A65R32K0871630, số máy: ISF28S4R14876110315, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020035 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.15, số khung: X96A65R32K0872463, số máy: ISF28S4R14876099634, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020036 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.97, số khung: X96A65R32K0871757, số máy: ISF28S4R14876110510, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020040 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
Bị đơn, Công ty Cổ phần T vắng mặt tại phiên tòa. Các thành viên Công ty T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Pháp luật về tố tụng:
Ngân hàng Liên doanh V có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công ty Cổ phần T. Bị đơn, Công ty T có địa chỉ trụ sở tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn, Công ty Cổ phần T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thành viên Công ty T gồm bà Cao Thị Ngọc Â, bà Trần Lệ X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Â, bà X là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Pháp luật về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của của Nguyên đơn:
[2.1.1] Đối với yêu cầu buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và lãi là 3.130.633.094 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 42/2021/HĐTD ngày 30/3/2021, Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 42/2021/HĐTD ngày 30/3/2021, số: 220/2021/PLHĐTD ngày 21/10/2021, Bảng kê rút vốn (nhận nợ vay) ngày 31/3/2021 thể hiện bị đơn đã được Ngân hàng V giải ngân tổng số tiền vay là 3.272.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chỉ thanh toán được số tiền nợ gốc là 819.505.631 đồng. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi từ kỳ thanh toán 25/7/2022 cho đến nay. Ngân hàng V đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ nhưng bị đơn vẫn cố tình không thực hiện.
Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn còn nợ số tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng là 2.452.494.369 đồng và tiền lãi 678.138.725 đồng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm. Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 14/9/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận theo nội dung hợp đồng tín dụng đã ký.
Thời hạn và phương thức thanh toán: Do Công ty T vi phạm nghĩa vụ thanh toán dẫn đến thiệt hại cho Nguyên đơn nên Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty T trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.1.2] Yêu cầu trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi thì được phát mãi tài sản bảo đảm để đảm bảo thu hồi nợ.
Xét, các tài sản thế chấp thực hiện theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Do đó, Nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của Công ty T để đảm bảo thu hồi nợ gồm:
05 xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ gồm các xe có biển kiếm soát số 50F-007.80; 50F-007.94; 50F-007.22; 50F-007.15; 50F-007.97 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.1.3] Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định là 5.000.000 đồng. Chi phí này Nguyên đơn đã thực hiện xong nên bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho Nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng.
[3] Về án phí: Do Công ty T có nghĩa vụ thanh toán tiền còn nợ nên phải có nghĩa vụ chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Nguyên đơn đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 227; khoản 2 Điều 244; khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng Liên doanh V:
1.1. Buộc Công ty Cổ phần T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Liên doanh V số tiền như sau:
Tiền nợ gốc: 2.452.494.369 (hai tỷ bốn trăm năm mươi hai triệu bốn trăm chín mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi chín) đồng.
Tiền nợ lãi: 678.138.725 (sáu trăm bảy mươi tám triệu một trăm ba mươi tám ngàn bảy trăm hai mươi lăm) đồng.
Tổng cộng tiền nợ gốc và lãi 3.130.633.094 (ba tỷ một trăm ba mươi triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn không trăm chín mươi bốn) đồng.
Phương thức và thời hạn trả: Trả làm một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Tiền lãi được tiếp tục phát sinh kể từ ngày 14/9/2024 theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi Công ty cổ phần T trả hết nợ.
Ngay khi Công ty cổ phần T trả hết tiền nợ cho Ngân hàng Liên doanh V thì Ngân hàng Liên doanh V phải trả lại cho Công ty Cổ phần T bản chính các giấy tờ sau:
- - Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020058, biển số đăng ký 50F-007.94;
- - Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020038, biển số đăng ký 50F-007.80;
- - Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020036, biển số đăng ký 50F-007.15;
- - Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020035, biển số đăng ký 50F-007.22;
- - Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020040, biển số đăng ký 50F-007.97.
Trường hợp, Công ty Cổ phần T vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng Liên doanh V được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng gồm:
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.80, số khung: X96A65R32K0871771, số máy: ISF28S4R14876110416, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020038 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.94, số khung: X96A65R32K0871511, số máy: ISF28S4R14876098469, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020058 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.22, số khung: X96A65R32K0871630, số máy: ISF28S4R14876110315, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020035 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.15, số khung: X96A65R32K0872463, số máy: ISF28S4R14876099634, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020036 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
- Xe ô tô khách nhãn hiệu GAZ, số loại A65R3240, biển kiểm soát: 50F-007.97, số khung: X96A65R32K0871757, số máy: ISF28S4R14876110510, màu sơn: Bạc; theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50020040 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 29/3/2021.
Trường hợp khi phát mãi các tài sản thế chấp nêu trên thuộc quyền sở hữu của Công ty cổ phần T để thu hồi nợ cho Ngân hàng liên doanh V. Nếu số tiền phát mãi tài sản sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ của Công ty Cổ phần T vẫn còn thừa thì phải trả lại số tiền còn thừa cho Công ty cổ phần T. Nếu số tiền phát mãi vẫn không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng liên doanh V thì Công ty cổ phần T tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
1.2. Công ty Cổ phần T phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (năm triệu) đồng. Chi phí này Ngân hàng liên doanh V đã thực hiện xong nên Công ty cổ phần T phải trả lại cho Ngân hàng liên doanh V số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
2/ Về án phí:
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 94.612.662 (chín mươi bốn triệu sáu trăm mười hai ngàn sáu trăm sáu mươi hai) đồng do Công ty cổ phần T nộp.
Hoàn lại cho Ngân hàng liên doanh V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 43.154.954 (bốn mươi ba triệu một trăm năm mươi bốn ngàn chín trăm năm mươi bốn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023544 ngày 30/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Út |
Bản án số 218/2024/KDTM-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 218/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Liên doanh V khởi kiện đối với Công ty Cổ phần T yêu cầu trả nợ vay
