Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2023/HS-ST

Ngày 11/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ninh và ông Trần Xuân Viện;
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Hương Lý, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 153/2023/TLST-HS ngày 17/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST-HS ngày 31/5/2023, đối với:

Bị cáo Nguyễn Hữu Đ, tên gọi khác: không; sinh năm 1995, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm N, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Đ1, đã chết và bà Phạm Thị H; có vợ là: Đỗ Thị H1, đã ly hôn, có 01 con. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 0009800 ngày 25/4/2023 Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, (không bị tạm giữ, tạm giam), có mặt.

Bị hại: Chị Dương Thị H2, sinh năm 1995, có mặt;

Nơi cư trú: xóm T, xã S, TP T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12 năm 2021, Nguyễn Hữu Đ quen biết và nảy sinh tình cảm với chị Dương Thị H2 (sinh năm 1995, nơi cư trú: xóm T, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên). Trong thời gian quen biết nhau, Đ thường xuyên đến sinh sống tại nhà của chị H2.

Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/11/2022, Đ đến nhà chị H2 nói chuyện thì giữa Đ và chị H2 xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Chị H2 bực tức dùng tay tát 01 (một) phát trúng mặt Đ thì Đ dùng tay tát lại 01 (một) phát trúng mặt chị H2. Chị H2 tháo nhẫn trên tay do Đ tặng ném xuống đất rồi đi vào nhà đóng cửa lại. Đ gọi nhưng chị H2 không mở cửa nên đã Đ dùng chân phải đạp mạnh 02 (hai) phát vào cửa khiến cửa bung ra đập vào tủ lạnh để gần làm vỡ kính cửa tủ lạnh. Đ đi vào trong nhà để lấy chìa khóa xe mô tô đi về thì nhìn thấy 04 (bốn) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 để trên bàn làm việc gần cửa ra vào. Do bực tức, Đ tiếp tục dùng tay trái cầm 04 (bốn) chiếc điện thoại trên ném xuống nền nhà gây hư hỏng rồi bỏ về. Sau đó, chị H2 đến cơ quan Công an trình báo sự việc và đề nghị giải quyết theo quy định.

Hậu quả:

  • 01 (một) tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic, màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ mặt kính cảm ứng cửa tủ.
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 354917091173218, đã qua sử dụng, bị trầy xước cạnh dưới bên phải.
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 355825088295648, đã qua sử dụng, bị vỡ cạnh trên và xước lắp lưng
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 359467081209924, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình cảm ứng
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu trắng, số IMEI: 354916095592738, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình cảm ứng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 340/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Giá trị thiệt hại đối với tủ lạnh là 3.000.000 đồng, giá trị thiệt hại đối với 04 (bốn) điện thoại Iphone 7 là 400.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản nêu trên là 3.400.000 đồng.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 (một) tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic, màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ mặt kính cảm ứng cửa tủ.
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 354917091173218, đã qua sử dụng, bị trầy xước cạnh dưới bên phải.
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 355825088295648, đã qua sử dụng, bị vỡ cạnh trên và xước nắp lưng.
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu đen, số IMEI: 359467081209924, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình cảm ứng.
  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 7, màu trắng, số IMEI: 354916095592738, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình cảm ứng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chị Dương Thị H2 là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.

01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba, dung lượng 4GB, màu bạc, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu V1, được lưu trong hồ sơ vụ án.

Phần dân sự: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã bồi thường cho chị Dương Thị H2 số tiền 25.000.000 đồng. Chị H2 không có đề nghị gì khác.

Bản cáo trạng số 157/CT-VKSTPTN ngày 16/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đại t 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phần lời nói sau cùng: bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/11/2022, tại nhà chị Dương Thị H2 thuộc xóm T, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Hữu Đ có hành vi dùng chân phải đạp vào cánh cửa nhà khiến cánh cửa đập vào tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic của chị H2 gây vỡ mặt kính cảm ứng cửa tủ lạnh trị giá 3.000.000 đồng; dùng tay trái ném 04 chiếc điện thoại Iphone 7 của chị H2 xuống đất gây thiệt hại 400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.400.000 đồng. Phần dân sự đến nay đã giải quyết xong.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, biên bản sự việc, lời khai của bị hại, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:

“1. Người nào... cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu, gây thiệt hại về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo chưa có tiền án tiền sự, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: bị cáo nhất thời phạm tội, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp cần chấp nhận.

[7] Về vật chứng: đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba, dung lượng 4GB, màu bạc, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu V1, là chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu trong hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi của chị H2 dùng tay tát Đ và Đ dùng tay tát chị H2 nhưng đều không gây ra thương tích, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 và Đ về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” là phù hợp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về hình phạt: căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • - Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  • - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 218/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger