|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 214/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Phương Ông Nguyễn Bình Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Hà Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXX-ST ngày 10/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh ngày 06/4/1997 (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Hà Văn K, sinh ngày 13/7/1995 (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Nơi thường trú: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chị T ủy quyền cho bà Phạm Thị T1, sinh năm 1976; Nơi thường trú: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án.
Nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chị T, anh K hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.
- Ông Hà Văn T2, sinh năm 1968 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:
Về hôn nhân: chị và anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh K làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2018 chị và anh K cùng sang Đài Loan lao động. Sau khi sang Đài Loan vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ tháng 5/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 5/2022 đến nay chị và anh K không ai quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Hà Văn K. Chị hiện nay về nước thăm gia sau đó sẽ tiếp tục quay trở lại Đài Loan để làm việc.
Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là Hà Minh Đ, sinh ngày 07/6/2015. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh K và bố mẹ đẻ anh K (ông T2, bà H). Do chị về nước thăm gia đình sau đó tiếp tục quay trở lại Đài Loan làm việc nên đề nghị Tòa án giao cháu Đ cho anh K chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông T2, bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh K về nước sinh sống.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị T đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.
Anh Hà Văn K là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 17/5/2024 và 27/5/2024, ông Hà Văn T2, bà Nguyễn Thị H là bố mẹ anh Hà Văn K cho biết.
Về hôn nhân của anh K, chị T ông, bà cho biết: Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T về nhà ông, bà làm dâu và chung sống hòa thuận. Năm 2018 anh K, chị T cùng đi lao động tại Đài Loan. Sau khi sang Đài Loan anh, chị vẫn hòa thuận nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ông, bà có khuyên bảo anh, chị về ở với nhau để chăm sóc con cái nhưng không được.
Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là cháu Hà Minh Đ, sinh ngày 07/6/2015, hiện đang sinh sống cùng ông, bà và anh K.
Về tài sản, công nợ chung: Anh, chị không có tài sản, công nợ nào chung.
Ngoài ra ông, bà cho biết: Trước khi đi lao động tại Đài Loan anh K sinh sống cùng gia đình tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Đài Loan anh K vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Gia đình đã thông báo cho anh K biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị T và anh K. Anh K cho biết anh đồng ý ly hôn với chị T và đề nghị giao con cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn T2, bà Nguyễn Thị H trình bày: Ông, bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ cho anh K cho đến khi anh K về nước sinh sống. Ông, bà xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ từ khi anh K, chị T đi lao động nước ngoài cho đến nay là quyền cũng như nghĩa vụ của ông bà đối với con cháu nên không yêu cầu anh K, chị T phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ.
Ngoài ra ông T2, bà H đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.
Cháu Hà Minh Đ trình bày: Từ khi bố mẹ đi nước ngoài lao động đến nay cháu sinh sống cùng ông bà nội và bố. Quá trình chung sống được ông bà, bố chăm cóc tốt. Nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn sinh sống cùng bố.
Tại phiên tòa, chị Phan Thị T, ông Hà Văn T2, bà Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Hà Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Phan Thị T; Biên bản làm việc với ông Hà Văn T2, bà Nguyễn Thị H là bố mẹ của anh Hà Văn K và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T; xử:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị T khởi kiện xin ly hôn anh K và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 10763/QLXNC-P3 ngày 24/5/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, anh K xuất cảnh gần nhất ngày 24/3/2019, chị T xuất cảnh gần nhất ngày 03/5/2024, cả hai hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh K, chị T được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh K là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về sự vắng mặt đương sự:
[3.1] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và ông Hà Văn T2, bà Nguyễn Thị H (bố mẹ anh K) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh K ở Việt Nam là: thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh K thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho anh K biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Phan Thị T và anh Hà Văn K. Gia đình anh K cho biết anh K vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh K không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh K tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Hà Văn K kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Hà Văn K.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T với anh K, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T, anh K chung sống hòa thuận sau đó cùng sang nước ngoài lao động. Sang nước ngoài lao động đến tháng 5/2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân. Kể từ đó ai có cuộc sống riêng của người đó, không còn quan tâm đến nhau. Anh K thông qua gia đình cho biết anh cũng đồng ý ly hôn với chị T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh K, chị T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh K là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: Chị T và anh K có 01 con chung là cháu Hà Minh Đ, sinh ngày 07/6/2015. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh K và bố mẹ đẻ anh K (ông T2, bà H). Sau ly hôn chị T đề nghị giao cháu Đ cho anh K chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông T2, bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh K về nước sinh sống.
Xét yêu cầu giao con chung cho anh K nuôi dưỡng của chị T, Hội đồng xét xử thấy: anh K, chị T hiện nay đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Tuy nhiên, bố mẹ anh K là ông T2, bà H đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ thay anh K cho đến khi anh K về nước sinh sống. Thực tế cháu Đ hiện nay đang sinh sống cùng ông T2, bà H từ khi anh K, chị T đi nước ngoài lao động cho đến nay, cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần, cháu có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy giao cháu Đ cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn nhưng tạm giao cho ông T2, bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh K về nước sinh sống là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung sau ly hôn của chị T.
Sau khi ly hôn chị Phan Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp chị Phan Thị T về nước sinh sống có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T, ông T2, bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ từ khi anh K, chị T đi lao động nước ngoài cho đến nay: Ông T2, bà H không yêu cầu nên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ: Do chị T, ông T2, bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Phan Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
[9.1] Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, anh K, chị T đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
[9.2] Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, ông T2, bà H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Chị Phan Thị T được ly hôn anh Hà Văn K.
- Về con chung: Giao cháu Hà Minh Đ, sinh ngày 07/6/2015 cho anh Hà Văn K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cho ông Hà Văn T2, bà Nguyễn Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh K về nước sinh sống.
Sau khi ly hôn, chị Phan Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001183 ngày 07/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Phan Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Anh Hà Văn K, chị Phan Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Ông Hà Văn T2, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 214/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 214/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T, anh K ly hôn, tranh chấp nuôi con
