TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 218/2025/HS-ST
Ngày: 02/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Nhã
Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Chương
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Hải Yến
Bà Vũ Thị Cự
Ông Lê Phú Hợp
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2025/HSST-QĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1996; giới tính: nam; ĐKHKTT: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Nguyễn Thị Thu H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay (Trại tạm giam số 1); có mặt
Người bào chữa: Luật sư Đỗ Xuân Đ thuộc Công ty L2; có mặt.
Bị hại: Anh Bùi Hạnh N, sinh năm 1986; nơi cư trú: căn 912A tòa P khu đô thị T, 2 L, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Đăng S, sinh năm 1977; nơi cư trú: số A chung cư A đường D, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1980; nơi cư trú: căn 908 B2 khu phức hợp M, khu B, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1957; nơi cư trú: tổ A phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/7/2020, anh Bùi Hạnh N (Giám đốc Công ty TNHH D3, địa chỉ: Số A ngõ E N, phường G, quận L, TP Hà Nội) và anh Nguyễn Thành L (Giám đốc Công ty TNHH T3, địa chỉ: Số G phố T, phường D, quận C, TP Hà Nội) ký với nhau hợp đồng thuê xe ô tô 7 chỗ, màu đen, nhãn hiệu Kia Sedona BKS: 30E-714.39, đăng ký chủ xe là Công ty TNHH T3, với giá thuê 24.000.000 đồng/tháng, thời gian thuê 01 năm từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/7/2021, mục đích để kinh doanh cho thuê lại xe ô tô. Ngay sau khi ký hợp đồng thuê xe, anh L đã bàn giao cho anh N xe ô tô nhãn hiệu Kia Sedona, BKS: 30E-714.39 cùng giấy tờ xe gồm: bản photo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và Giấy chứng nhận đăng kiểm xe để anh N làm dịch vụ cho thuê xe tự lái.
Nguyễn Tuấn D quen biết anh Bùi Hạnh N từ năm 2019 qua mạng xã hội Facebook do anh N đăng tin cho thuê ô tô tự lái, D là khách hàng thường thuê xe ô tô tự lái của anh N.
Khoảng tháng 8/2020, do cần tiền để trả nợ cá nhân do làm ăn kinh doanh thua lỗ, Nguyễn Tuấn D đã nảy sinh ý định thuê xe ô tô của anh N để mang đi cầm cố cho người khác để lấy tiền. Ngày 11/8/2020, D gọi điện thoại liên hệ với anh N để thuê xe ô tô tự lái, anh N thỏa thuận cho D thuê xe ô tô nhãn hiệu Kia Sedona BKS: 30E-714.39 để sử dụng đi lại, thời gian thuê xe là 14 ngày và tối đa là 01 tháng, giá thuê xe là 2.000.000đồng/ngày, trả trước 25.000.000 đồng tiền đặt cọc thuê xe cho anh N. D đồng ý và hẹn hôm sau sẽ đến nhận xe và ký hợp đồng. Khoảng 11 giờ ngày 12/8/2020, anh N đến gặp D tại Tháp T tòa N04B khu chung cư N đoàn, phường X, quận B, TP Hà Nội để ký hợp đồng thuê xe ô tô tự lái và bàn giao cho Nguyễn Tuấn D xe ô tô 07 chỗ, màu đen, nhãn hiệu Kia Sedona, BKS: 30E-714.39 cùng giấy tờ xe trên. Đồng thời, D gọi điện thoại và nhờ chị Nguyễn Thị Quỳnh D2 (sinh năm: 1989, trú tại: Tổ F, phường Q, quận C, Hà Nội) là hàng xóm cạnh nhà bố mẹ D ở tỉnh Thái Nguyên chuyển hộ số tiền 25.000.000 đồng vào tài khoản của anh Bùi Hạnh N mở tại Ngân hàng T4 để đặt cọc thuê xe ô tô, nội dung chuyển khoản “Nguyễn Tuấn D ck tiền thuê xe”. Sau khi nhận xe, cùng ngày 12/8/2020, D điều khiển xe ô tô BKS: 30E-714.39 đi đến xã T, TP T, tỉnh Thái Nguyên cầm cố xe cho Nguyễn Minh T (sinh năm 1990, HKTT: Xóm N, xã T, TP T) vay số tiền 320.000.000 đồng mục đích để sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân.
Đến ngày 22/8/2020 là hạn trả xe ô tô BKS: 30E-714.39, anh N nhiều lần gọi điện thoại cho Nguyễn Tuấn D yêu cầu trả xe, nhưng D khất lần nại ra lý do đang đi chơi với “Sếp” và hẹn chiều ngày 31/8/2020 D sẽ mang xe ô tô trên về trả cho anh N. Đến hẹn, anh N gọi điện thoại cho D nhưng D tắt máy, không liên lạc được. Anh N gọi điện thoại nhờ anh Nguyễn Thanh L1 (là chủ xe) kiểm tra định vị của xe ô tô BKS 30E-714.39 và phát hiện định vị xe bị ngắt, không xác định được vị trí xe. Khoảng giữa tháng 9/2020, anh Nguyên phát H1 xe ô tô nhãn hiệu Kia Sedona BKS 30E-714.39 được rao bán trên mạng xã hội Facebook tên tài khoản là “T - N1”.
Ngày 25/9/2020, anh Bùi Hạnh N đã gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe ô tô của Nguyễn Tuấn D.
Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn D khai D và Nguyễn Minh T có mối quen hệ bạn bè. Trước đó, khoảng năm 2019 D đã nhiều lần vay tiền của Thông số tiền gần 02 tỷ đồng để làm ăn kinh doanh nhưng bị thua lỗ nên D chưa có tiền trả cho T. Ngày 05/8/2020, D đến gặp T hỏi vay 320.000.000 đồng để trả nợ cá nhân, Thông đồng ý. Cùng ngày, T đã chuyển trước 110.000.000 đồng từ tài khoản số [...] của T mở tại ngân hàng V vào tài khoản số 10934998591018 của Nguyễn Tuấn D mở tại Ngân hàng T4 Chi nhánh T5. Đến ngày 10/8/2020, D tiếp tục đến nhà T hỏi vay tiền, nhưng T nói phải có tài sản thế chấp thì T mới cho D vay. Do không có tài sản thế chấp nên D đã nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái của anh Bùi Hạnh N để mang đến cầm cố cho T vay tiền. D trao đổi ý định trên cho T biết, Thông đồng ý và đã chuyển 100.000.000 đồng vào tài khoản của D cho vay tiếp. Theo hẹn, ngày 12/8/2020, sau khi ký xong hợp đồng thuê và nhận xe ô tô 7 chỗ, màu đen, nhãn hiệu Kia Sedona BKS: 30E-714.39 của anh Bùi Hạnh N, D lái xe ô tô đến nhà Nguyễn Minh T để cầm cố xe ô tô cho T vay 320.000.000 đồng.
Do trước đó vào các ngày 05 và 10/8/2020, D đã nhận của T tổng số tiền vay là 210.000.000 đồng, nên ngày 20/8/2020 T chuyển khoản cho D vay số tiền còn lại là 110.000.000 đồng như đã thỏa thuận, hai bên có viết giấy vay tiền và giao lại cho T giữ. Từ khi giao xe ô tô BKS: 30E-714.39 cho T, D không biết nơi ở của T và không liên lạc được.
Ngày 18/5/2021, Công an xã T, TP T, tỉnh Thái Nguyên cung cấp Nguyễn Minh T từ tháng 9/2020 không có mặt tại nơi cư trú, gia đình và địa phương không biết T ở đâu, làm gì, không liên lạc được.
Cùng ngày 21/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B, TP Hà Nội ra Quyết định truy tìm tang vật số 62 đối với xe ô tô 7 chỗ, màu đen, nhãn hiệu Kia Sedona BKS: 30E-714.39 và ra Quyết định truy tìm đối tượng số 58 đối với Nguyễn Minh T.
Đến ngày 26/01/2024, Công an xã T cung cấp thông tin xác định: Nguyễn Minh T đã chết vào ngày 31/12/2023 tại Số F C, phường A, quận T, TP Hồ Chí Minh (kèm theo Trích lục khai tử số 14/2024/TLKT-BS ngày 18/01/2024 của UBND xã T, TP T, tỉnh Thái Nguyên). Kiểm tra sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Tuấn D và của Nguyễn Minh T, phù hợp với các giao dịch chuyển tiền và nhận tiền như nội dung vụ án.
Quá trình điều tra, ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận B đã thu giữ xe ô tô 7 chỗ, màu trắng, nhãn hiệu Kia Sedona BKS: 30E-714.39 tại phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai do anh Lê Đăng S đang quản lý và sử dụng. Anh Lê Đăng S khai ngày 14/01/2022, Trần Bình T1 (sinh năm: 1984, HKTT: Số D, khu phố D, phường B, TP B, tỉnh Đồng Nai) là bạn anh S lái xe ô tô 7 chỗ, màu trắng, nhãn hiệu Kia Sedona, BKS: 30E-714.39 đến nhà anh S hỏi vay 315.000.000 đồng và để lại xe ô tô trên để làm tin, T1 hẹn đến ngày 15/3/2022 sẽ đến trả tiền cho anh S và lấy xe về, T1 có viết Giấy mượn tiền. Khi để lại xe ô tô, T1 nói nguồn gốc xe ô tô là do T1 mua lại của người em nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Do tin T1 nên anh S đồng ý cho T1 vay tiền, nhận xe ô tô trên để làm tin và sử dụng đi lại. Sau đó, anh S nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu T1 trả tiền vay và lấy lại xe ô tô nhưng T1 tắt máy không liên lạc. Anh S không biết nơi ở của T1.
Xác minh tại Công an phường B, TP B, tỉnh Đồng Nai cung cấp Trần Bình T1, sinh năm 1984, ĐKHKTT và cư trú tại số nhà D, tổ B, khu phố D, phường B. Hiện Trần Bình T1 không có mặt tại nơi cư trú, không rõ T1 đang ở đâu, làm gì, không liên lạc được.
Tại Bản kết luận giám định số 718 ngày 29/02/2024 của V1 - Bộ C, kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Tuấn D dưới mục “Đại diện Bên A” trên tài liệu “Hợp đồng thuê xe đề ngày 12/8/2020” (Ký hiệu A), so với mẫu chữ ký của Nguyễn Tuấn D trên có phải do cùng một người ký ra hay không, do khác dạng.
Tại Bản kết luận giám định số 1300 ngày 05/02/2024 của Phòng K – Công an thành phố H, kết luận: Xe ô tô 7 chỗ, màu trắng, nhãn hiệu KIA SEDONA, BKS: 30E-714.39 có số khung: 52A6HC101633, số máy: D4HBGH769842 là số nguyên thủy.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18 ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B, TP Hà Nội, kết luận: Xe ô tô 7 chỗ, màu trắng, nhãn hiệu KIA SEDONA, BKS: 30E-714.39 có trị giá là 610.000.000 đồng.
Xác minh tại Phòng C1 - Công an T xác định: Chủ sở hữu chiếc xe ô tô 07 chỗ, màu đen, nhãn hiệu KIA SEDONA, BKS: 30E-714.39 là Công ty TNHH T6 và DVDL SCANDIVINA do anh Nguyễn Thành L là Giám đốc.
Ngày 06/02/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận B ra Quyết định xử lý vật chứng số 668, trả lại xe ô tô BKS: 30E-714.39 cho anh Nguyễn Thành L là chủ sở hữu xe. Anh Nguyễn Thành L đã nhận lại tài sản và tiền thuê xe của anh Bùi Hạnh N, nên anh L không có yêu cầu, đề nghị đối với anh N và Nguyễn Tuấn D.
Đối với anh Bùi Hạnh N trình bày, quá trình thuê xe ô tô BKS: 30E-714.39, anh N đã trả cho anh L khoảng 200.000.000 đồng tiền thuê xe, anh N yêu cầu Nguyễn Tuấn D phải trả số tiền thuê xe. Đến ngày 15/6/2024, ông Nguyễn Văn D1 (bố của D) đã tự nguyện trả cho anh Bùi Hạnh N số tiền 30.000.000 đồng và xin khắc phục trả dần số tiền thuê xe còn lại cho Nguyễn Tuấn D. Ngày 22/11/2024, anh N có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Nguyễn Tuấn D, không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.
Đối với Lê Đăng S là người nhận cầm cố xe ô tô nhãn hiệu KIA SEDONA BKS: 30E-714.39 của Trần Bình T1, sử dụng xe ô tô và bị Cơ quan điều tra thu giữ, tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định Lê Đăng S biết được nguồn gốc xe ô tô BKS: 30E-714.39 là do phạm tội mà có.
Đối với Trần Bình T1 hiện đang vắng mặt tại nơi cư trú, ngày 14/11/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H đã ra Quyết định số 19319 tách hành vi và tài liệu liên quan đến Trần Bình T1 để điều tra làm rõ và xử lý sau.
Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSHN–P3 ngày 10/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Đại diện viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tuấn D từ 08 đến 09 năm tù.
- Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu về dân sự nên không xem xét.
- Người bào chữa cho các bị cáo đồng ý tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, người bào chữa đề nghị xử phạt mức hình phạt thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng quy kết. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân, Nguyễn Tuấn D đã nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái để mang đi cầm cố cho người khác lấy tiền. Ngày 12/8/2020, Nguyễn Tuấn D đã thuê xe ô tô nhãn hiệu KIA SEDONA Biển kiểm soát 30E-714.39 của anh Bùi Hạnh N và mang đi cầm cố lấy tiền để sử dụng cá nhân, không trả lại xe ô tô cho anh N. Xe ô tô bị chiếm đoạt trên có trị giá định giá tài sản là 610.000.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng mới đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đã thành khẩn khai báo, ăn ăn, hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu; bị cáo đã bồi thường và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo hiến 01 bên thận để cứu chữa bệnh nhân khác; gia đình có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã ăn năn, hối cải, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên có thể xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt.
Đối với Trần Bình T1 hiện vắng mặt tại nơi cư trú. Cơ quan điều tra có quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến T1 để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với anh Lê Đăng S, kết quả điều tra xác định anh S không biết xe ô tô Sedona Biểm kiểm soát 30E-714.39 do Trần Bình T1 cầm cố do phạm tội mà có. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hình sự là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự.
Hiện nay Trần Bình T1 không có mặt ở nơi cư trú nên chưa thể làm rõ giao dịch giữa anh Lê Đăng S và T1. Mặt khác, Lê Minh T2 hiện nay đã chết nên không thể làm rõ hành vi liên quan. Hành việc cầm cố xe ô tô Sedona Biểm kiểm soát 30E-714.39 giữa anh S và T1 không trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Tuấn D. Vì vậy, không đồng xét xử không đủ cơ sở xem xét đề nghị của anh S về việc buộc T1 phải trả lại số tiền đã vay. Anh S có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu giải quyết về dân sự nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.
Anh Nguyễn Thành L đã nhận lại xe ô tô Sedona Biểm kiểm soát 30E-714.39 và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.
Ông Nguyễn Văn D1 không có yêu cầu gì đối với số tiền bồi thường thay bị cáo nên không xem xét.
[4] Về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Tuấn D 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2024.
- Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, ông Nguyễn Văn D1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Đăng S, anh Nguyễn Thành L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 218/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 218/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn D - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
