|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 218/2025/HS-PT Ngày: 30/09/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Bà Quách Thị Phương Thúy và ông Phạm Văn Hợp.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thơi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 08 năm 2025, đối với bị cáo Chu Hoàng H và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Hải Phòng.
- Các bị cáo kháng cáo:
- Chu Hoàng H - sinh ngày 01/01/1998; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương nay là xã N, thành phố Hải Phòng; Giới tính: Nam; Số căn cước: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Chu Văn M và bà Hoàng Thị L; Có vợ: Đinh Ngọc T, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024.
- Nguyễn Bá H1 - sinh ngày 12/10/2003; Nơi cư trú: thôn V, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương nay là phường T, thành phố Hải Phòng; Giới tính: Nam; Số căn cước: [...]; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá Q và bà Nguyễn Thị L1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Vũ Anh T1 - sinh ngày 16/12/2003; Nơi cư trú: thôn N, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương nay là phường B, thành phố Hải Phòng; Giới tính: Nam; Số căn cước: [...]; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Văn T2 và bà Trịnh Thị T3; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án: Tại Bản án số 42 ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn xử phạt Chu Hoàng H 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 26/7/2022, H chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, ngày 28/12/2022 H chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo H vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo H1 và T1 đều có mặt tại phiên toà.
* Bị hại:
- - Anh Nguyễn Đình T4, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn G, xã A, thành phố T, thành phố Hải Phòng.
- - Anh Trần Văn K, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn E, xã A, thành phố T, thành phố Hải Phòng.
Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
* Người làm chứng: Ông Chu Văn M. Vắng mặt
- Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 16/7/2024, anh Nguyễn Đình T4 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Inova, biển số: 15A-493.62 chở anh Trần Văn K ngồi ở ghế phụ đi từ xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương nay là xã N, thành phố Hải Phòng theo đường tỉnh lộ 389B để về nhà. Khi anh T4 đi đến khu vực cổng làng C, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương nay là phường T, thành phố Hải Phòng, thấy xe ô tô bán tải màu đen biển số: 34C-31406 do ông Chu Văn M điều khiển đi lấn phần đường. Sau đó anh T4 và ông M dừng lại xuống xe, hai bên có lời qua tiếng lại với nhau thì anh K xuống can ngăn. Cùng lúc đó vợ của ông M là bà Hoàng Thị L gọi điện cho ông M qua zalo hỏi “sao anh lâu về thế”, ông M nói “anh đang ở cổng làng C Bộ có bọn định đánh anh” rồi ông M tắt điện thoại. Sau đó, anh T4, anh K cùng ông M đi vào trước cửa nhà chị Nguyễn Thị Vân A ở đối diện cổng làng C Bộ để nói chuyện giảng hòa. Cùng lúc này thì Nguyễn Bá H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số: 34D1-27592 (xe Hoàn mượn của chị Nguyễn Thị V) chở Chu Hoàng H (là con trai ông M) và Vũ Anh T1 đi từ quán K1 ở xã L là phường B, thành phố Hải Phòng (quán do H thuê) về nhà H. Trên đường về, H bảo H1 đi vào nhà hàng L2 lấy thanh kiếm dài khoảng 1 mét, lưỡi kiếm bằng kim loại đựng trong vỏ gỗ màu đỏ cam, tay cầm bằng gỗ đem lên quán K1 của H, H1 đồng ý. Khi H1 chở H và T1 đến cửa nhà H thì H và T1 xuống xe còn H1 đi lấy kiếm có đặc điểm như trên. H vào trong nhà thì bà L nói với H “bố mày đang bị đánh ở dưới làng C kia kìa”. Sau khi nghe thấy bà L nói như vậy thì H bảo T1 “đi với anh có việc”, T1 đồng ý. H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda màu đen, biển số: 34A-300.54 của ông M chở T1 ngồi ở ghế phụ đến cổng UBND xã P (cũ) gặp H1, H bảo T1 xuống lấy thanh kiếm H1 cầm đem lên xe, T1 xuống lấy thanh kiếm lên xe để dưới chân chỗ T1 ngồi sát cạnh chiếc gậy bóng chày bằng kim loại, dài 80,5cm mặt ngoài sơn màu đỏ, đường kính đầu gậy 3,2cm, phần nắm tay cầm quấn nilon màu đen dài 21cm, đầu núm tay cầm đường kính 4,5cm H để từ trước đó. Lúc này H bảo H1 “đi hướng đường X xem gặp chú ở đâu xong ở đó đợi anh” (ý là gặp ông M ở đâu thì đợi H), H1 đồng ý và điều khiển xe mô tô có đặc điểm như trên đi theo hướng trạm bơm ra đường C xuống xã H nay là phường T Còn H điều khiển xe ô tô trên chở T1 đi hướng đường C xuống xã H nay là phường T Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, H và H1 đi đến cổng làng C, xã H nay là phường T, thành phố Hải Phòng, thấy ông M cùng anh T4 và anh K đang đứng nói chuyện ở trước cửa nhà chị Vân A. H đỗ xe ô tô trước cửa nhà chị Vân A, H1 đỗ xe mô tô ở gần đuôi xe ô tô của H. H và T1 xuống xe, H chạy vào dùng tay đánh anh T4 nhưng không trúng thì H quay ra xe ô tô mở cửa ghế phụ lấy chiếc gậy bóng chày cầm ở tay phải lao vào vụt anh T4. Do anh K kéo H ra nên H vụt không trúng anh T4, H tiếp tục dùng gậy bóng chày vụt một nhát trúng vào mạn sườn bên phải anh K. Thấy H tiếp tục cầm gậy bóng chày giơ lên vụt về phía anh K thì anh K đưa tay phải lên đỡ trúng vào cẳng tay phải. Cùng lúc này T1 dùng tay trái vít cổ anh T4 và dùng tay phải đấm một cái vào mắt trái anh T4 làm anh T4 bị ngã xuống đất. H1 dùng thanh kiếm có đặc điểm như trên (lưỡi kiếm vẫn trong vỏ bao kiếm) lấy ở ghế phụ xe ô tô của H chém một nhát vào đỉnh đầu làm anh T4 bị rách da chảy máu. Anh T4 đứng dậy thì H tiếp tục dùng gậy bóng chày vụt vào mặt anh T4 làm anh T4 bị gãy 02 chiếc răng cửa. Sau đó, ông M vào can ngăn thì H, H1, T1 không đánh nữa cầm theo kiếm, gậy bóng chày lên xe ô tô đi về. H đưa kiếm và gậy bóng chày cho H1 cất giấu ở quán K1.
Anh T4 và anh K đến trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã K (cũ) rồi đến Trung tâm y tế thị xã K khám, điều trị. Ngày 17/7/2024, anh T4 chuyển lên Bệnh viện H2 điều trị đến ngày 26/7/2024 ra viện; anh K chụp chiếu X-Q không bị gãy xương không phải điều trị.
Tại bệnh án ngoại khoa của Trung tâm y tế thị xã K xác định thương tích của anh T4: vết thương vùng đỉnh đầu kích thước (8x2)cm sâu sát xương nền sọ, bờ gọn; vùng mắt trái bầm tím nhiều, phù nề; gãy thân răng 1.1, 2.1 hở tủy, lung lay răng R1.2, 2.2, 2.3.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 610/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 26/8/2024 của Trung tâm P - Sở Y kết luận: anh Nguyễn Đình T4 bị sẹo vết thương vùng đỉnh đầu bên phải kích thước trung bình (chiều rộng dưới 0,5cm). Tổn thương chấn động não glasgow 14đ, điều trị ổn định. Gãy 02 thân răng cửa hàm trên R1.1, 2.1. Vết bầm tím quanh mắt trái đã khỏi, không thấy để lại dấu vết. Hội chẩn phim CT sọ não: gãy xương thành ngoài xác xoang sàng (xương thành trong hốc mắt trái), phù hợp với thời điểm chấn thương, không thấy hình ảnh máu tụ nội sọ, không tổn thương xương sọ. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đình T4 tại thời điểm giám định là 12%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng đỉnh đầu bên phải gây nên là 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương chấn động não glasgow 14đ, điều trị ổn định gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy 02 thân răng cửa hàm trên R1.1, 2.1 gây nên là 02% và 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương thành ngoài các xoang sàng (xương thành trong hốc mắt trái) gây nên là 06%. Vết bầm tím quanh mắt trái đã khỏi, không thấy để lại dấu vết, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Kết luận khác: Vết thương vùng đỉnh đầu bên phải có đặc điểm do vật sắc nhọn tác động gây nên, nếu dùng kiếm chém gây nên thì cũng phù hợp. Chấn thương gãy thân răng R1.1, 2.1 có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên, nếu dùng gậy đập gây nên thì cũng phù hợp. Vết bầm tím mắt trái, gãy xương thành ngoài các xoang sàng (xương thành trong hốc mắt trái) có đặc điểm do vật tày (tay chân cũng là vật tày) tác động trực tiếp gây nên, nếu dùng tay đấm gây nên thì cũng phù hợp. Nạn nhân không khám chuyên khoa mắt nên không xác định được chấn thương vùng mắt trái có ảnh hưởng thị lực hay không, nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 609/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 26/8/2024 của Trung tâm P - Sở Y kết luận: anh Trần Văn K bị vết bầm tím vùng thắt lưng phải, mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải đã khỏi, không thấy để lại dấu vết, không tổn thương xương cột sống thắt lưng, xương lồng ngực, xương cẳng tay phải. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn K tại thời điểm giám định là 00% (Không phần trăm), trong đó: Vết bầm tím vùng thắt lưng phải, mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải đã khỏi, không thấy để lại dấu vết, không tổn thương xương cột sống thắt lưng, xương lồng ngực, xương cẳng tay phải, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Kết luận khác: các thương tích trên có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên, nếu do bị gậy đánh gây nên thì cũng phù hợp.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ được 02 vật thể màu trắng đục có cùng kích thước (1x0,8)cm nghi là răng người tại hiện trường; 01 gậy bằng kim loại dạng hình gậy bóng chày dài 80,5cm được sơn mặt ngoài màu đỏ, đường kính đầu gậy 3,2cm, phần nắm tay cầm quấn nilon màu đen dài 21cm, đầu núm tay cầm có đường kính 4,5cm; 01 bao kiếm được làm bằng gỗ, có màu đỏ cam, họa tiết sơn màu đen, dài 67cm, mũi nhọn, bản rộng nhất 6cm, dày 2cm, ở giữa vỏ bao kiếm có khoảng khe hở kích thước (64,5x5,5x0,6)cm . Mặt ngoài bao kiếm có 03 vòng kim loại màu vàng đồng cố định bao kiếm. Dọc phần bụng bao kiếm bị dập vỡ mất gỗ trên diện (23x1)cm, điểm vỡ gần nhất cách đầu bao kiếm 13cm. Phần đầu mũi lưng bao kiếm bị vỡ mất gỗ diện (5x2)cm; 01 khúc gỗ dạng hình trụ tròn, có màu đỏ cam, họa tiết sơn màu đen, dài 22,7cm, phần đầu to khúc gỗ có đường kính 3,7cm, đầu nhỏ khúc gỗ có đường kính 2,7cm, trên thân được gắn ba vòng màu vàng đồng bằng kim loại, chiều rộng mỗi vòng 2,5cm do Nguyễn Bá H1 giao nộp; 01 USB nhãn hiệu HOCO 8GB do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã K (cũ) trích dữ liệu từ camera an ninh của nhà chị Nguyễn Thị Vân A ghi lại hình ảnh vụ cố ý gây thương tích. 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda màu đen, biển số: 34A-30054 do ông Chu Văn M giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số: 34D1-27592 do chị Nguyễn Thị V giao nộp.
Đối với lưỡi kiếm bằng kim loại đựng trong bao kiếm có đặc điểm như trên H1 để ở quán K1 sau đó đã bị mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K không thu giữ được.
Tại bản Kết luận giám định số 2256 ngày 29/7/2024 của Phòng K2 - Công an thành phố H, kết luận: 01 tập tin có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 18,5MB được lưu trong USB nhãn hiệu HOCO 8GB đã qua sử dụng (Ký hiệu A) không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa. Trích xuất 06 hình ảnh lập thành bản ảnh. H1 lại toàn bộ mẫu vật gửi giám định đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã K.
Đối với 01 gậy bằng kim loại dạng hình gậy bóng chày, 01 bao kiếm làm bằng gỗ, 01 khúc gỗ hình trụ tròn có đặc điểm như trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh H đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn quản lý để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 26/06/2025, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nay là Khu vực 10 - Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đối với các bị cáo H, H1, T1. Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H.
- Tuyên bố các bị cáo Chu Hoàng H, Nguyễn Bá H1, Vũ Anh T1 đều phạm tội: Cố ý gây thương tích.
- Xử phạt: Bị cáo Chu Hoàng H 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Bị cáo Nguyễn Bá H1 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Bị cáo Vũ Anh T1 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 30/06/2025, bị cáo Chu Hoàng H, Nguyễn Bá H1 và Vũ Anh T1 kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 29/09/2025, bị cáo Chu Hoàng H có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Bá H1 và Vũ Anh T1 thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của mình nên rất ăn năn, hối hận; đã tự nguyện nộp án phí theo bản án đã tuyên đối với các bị cáo. Từ trước đến nay, bị cáo H1 và T1 luôn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, chưa vi phạm lần nào ngoài lần này. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Chu Hoàng H (có đơn rút kháng cáo ngày 29/9/2025).
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá H1; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HSST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn nay là Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Bá H1.
- - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T1; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HSST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn nay là Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Anh T1 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường B, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Bá H1 phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Chu Hoàng H, Vũ Anh T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm đã gây ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Ngày 29/09/2025, bị cáo Chu Hoàng H có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Chu Hoàng H theo quy định tại Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của chính các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 18 phút ngày 16/7/2024, tại thôn C, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương nay là phường T, thành phố Hải Phòng. Do có mâu thuẫn giữa anh Nguyễn Đình T4 và ông Chu Văn M trong việc tham gia giao thông đường bộ, hai bên đang nói chuyện hòa giải thì Chu Hoàng H (là con trai ông M), Nguyễn Bá H1 và Vũ Anh T1 (đều là bạn của H) đến. Hà nghĩ là anh T4 và anh Trần Văn K (là bạn anh T4) đánh ông M nên H đã dùng gậy bóng chày bằng kim loại dài 80,5cm mặt ngoài sơn màu đỏ, đường kính đầu gậy 3,2cm, phần nắm tay cầm quấn nilon màu đen dài 21cm, đầu núm tay cầm có đường kính 4,5cm vụt vào mạn sườn bên phải, cẳng tay phải của anh K và vụt vào mặt anh T4; Vũ Anh T1 dùng tay phải đấm một cái vào vùng mắt bên trái của anh T4; Nguyễn Bá H1 dùng thanh kiếm dài khoảng 01 mét, lưỡi kiếm bằng kim loại vẫn nằm trong vỏ bao chém một nhát vào đầu anh T4. Hậu quả anh T4 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%. Anh K bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 0%.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Chu Hoàng H, Nguyễn Bá H1 và Vũ Anh T1 về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Về tội danh các bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
[4]. Các bị cáo Nguyễn Bá H1 và Vũ Anh T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ thực sự ăn năn hối cải, cùng bị cáo H tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, các bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H1 và Vũ Anh T1 mỗi bị cáo 24 tháng tù là phù hợp.
[5]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá H1, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo H1 là người đã trực tiếp dùng thanh kiếm bằng kim loại vẫn nằm trong vỏ là hung khí nguy hiểm chém vào đầu và gây thương tích cho anh T4. Hành vi của bị cáo H1 thể hiện tính chất mức độ nguy hiểm cao. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo H1 xuất trình chứng cứ xác định các bị cáo tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; Bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo H1, Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá H1.
[6]. Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T1: Bị cáo T1 có hành vi dùng tay đấm một cái vào vùng mắt và gây thương tích cho anh T4, bị cáo không có hành vi nào khác. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình chứng cứ xác định bị cáo tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; Bị hại là anh T4 có đơn tiếp tục xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Anh T1, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, đã ý thức được hành vi nguy hiểm của mình nên rất ăn năn, hối hận; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù. Việc giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T1, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[7]. Do bị cáo Vũ Anh T1 được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8]. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Chu Hoàng H rút kháng cáo; bị cáo Vũ Anh T1 kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự; Bị cáo Nguyễn Bá H1 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm hình sự theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[9]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a, b, đ khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Đình chỉ xét việc xử phúc thẩm đối với bị cáo Chu Hoàng H.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá H1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nay là Khu vực 10 – Hải Phòng về phần hình phạt đối với Nguyễn Bá H1.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Anh T1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nay là Khu vực 10 – Hải Phòng về phần hình phạt đối với bị cáo Vũ Anh T1.
-
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đối với bị cáo Nguyễn Bá H1 và Vũ Anh T1. Áp dụng thêm Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo H1. Áp dụng thêm khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo T1.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá H1 và bị cáo Vũ Anh T1 phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Hl 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Bá H1 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Anh T1 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Vũ Anh T1 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Anh T1.
-
Về án phí: Các bị cáo Chu Hoàng H, Vũ Anh T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Bá H1 phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm (chưa nộp).
Xác nhận: bị cáo Chu Hoàng H đã nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/25E, số 0000738; Nguyễn Bá H1 đã nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/25E, số 0000739; Vũ Anh T1 đã nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/25E, số 0000741 cùng ngày 15/09/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/09/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Hằng |
Bản án số 218/2025/HS-PT ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 218/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Hoàng H
