Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀI NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 218/2025/DS-ST

Ngày 23 - 5 - 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Tố
  2. Ông Phan Á

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2025/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 97/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 377/2025/QĐST- DS ngày 23/4/2025 giữa các đương sự;

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (gọi tắt là N2)

Địa chỉ: 2 C, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngô Phúc V - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Ngọc S, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số B đường T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định (theo Giấy ủy quyền số:277/2024/UQ-NHNA-A.NHON ngày 22/8/2024).

* Bị đơn: Vợ chồng ông Võ Trọng N, sinh năm 1987

Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1991

Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Võ H1, sinh năm 1959
  • + Bà Bùi Thị B, sinh năm 1968

Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định

Người đại diện theo uỷ quyền của ông H1, bà B: Ông Võ Trọng N, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.

(Hợp đồng ủy quyền số công chứng 857, quyển số: 01/2025TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2025).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Ngọc S trình bày:

Ngày 21/7/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 - Chi nhánh Q - Phòng G cùng vợ chồng ông Võ Trọng N, bà Huỳnh Thị H ký kết hợp đồng tín dụng từng lần số: 0152/2022/405-TD-CV và giấy nhận nợ số: 01/GNN-0152/2022/405-TD-CV ngày 22/7/2022 với nội dung: Vợ chồng ông N bà H vay Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền 850.000.000 (tám trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất vay 11,5%/năm trong 03 tháng đầu tiên, điều chỉnh 03 tháng/01 lần, thời hạn vay 12 tháng, hình thức vay lãi trả hàng tháng, gốc trả một lần cuối kỳ, mục đích vay buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng. Để đảm bảo cho khoản tiền vay trên, vợ chồng ông Võ H1, bà Bùi Thị B thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số: 266, tờ bản đồ số 34, diện tích 755,3m² (200m² đất ở và 555,3m² đất trồng cây lâu năm) tại khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Võ H1 và bà Bùi Thị B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 107079, số vào sổ cấp GCN: H00244 do UBND huyện H, tỉnh Bình Định cấp ngày 06/8/2007; tài sản thế chấp căn cứ theo Hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) số : 0133/2022/405-TD-BĐ được công chứng tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh B ngày 21/7/2022, số công chứng 4224, quyển số 01/2022TP/CC-CC/HĐGD, đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B-Chi nhánh thị xã H ngày 21/7/2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, do vợ chồng ông N, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng TMCP N1 nên căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay và chuyển nợ quá hạn cụ thể: Ngày 23/7/2023, Ngân hàng TMCP N1 chuyển toàn bộ dư nợ của Giấy nhận nợ số 01/GNN-0152/2022/405-TD-CVsang nợ quá hạn do khoản vay này đáo hạn (kết thúc thời hạn cho vay) vào ngày 23/7/2023 mà ông Võ Trọng N và bà Huỳnh Thị H không thanh toán.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/5/2025, ông Võ Trọng N và bà Huỳnh Thị H còn nợ Ngân hàng TMCP N1 tổng số tiền 1.218.771.866 (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó, nợ gốc: 849.950.580 đồng, lãi trong hạn 10.619.178 đồng, lãi phạt trong hạn 1.949.274 đồng, lãi phạt quá hạn 356.252.834 đồng.

Nay, ông S yêu cầu ông Võ Trọng N và bà Huỳnh Thị H trả cho Ngân hàng TMCP N1 tổng số tiền tính đến ngày 23/5/2025 là 1.218.771.866 (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi sáu) đồng.

Kể từ ngày 24 tháng 5 năm 2025, vợ chồng ông Võ Trọng N bà Huỳnh Thị H còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng từng lần, giấy nhận nợ đã ký kết giữa các bên cho đến ngày trả hết nợ. Nếu vợ chồng ông N bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 266, tờ bản đồ số 34, diện tích 755,3m² (200m² đất ở và 555,3m² đất trồng cây lâu năm) địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 107079, số vào sổ cấp GCN: H00244 do UBND huyện H, tỉnh Bình Định cấp ngày 06/8/2007 cho vợ chồng ông Võ H1 bà Bùi Thị B, theo Hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) số: 0133/2022/405-TD-BĐ được công chứng tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh B ngày 21/7/2022, số công chứng 4224, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh thị xã H ngày 21/7/2022 để thu hồi nợ.

Sau khi xử lý tài sản thế chấp nêu trên mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì vợ chồng ông N bà H phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

- Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa bị đơn vợ chồng ông Võ Trọng N bà Bùi Thị H2 trình bày:

Vợ chồng ông N, bà H2 thống nhất như toàn bộ nội dung trình bày của đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP N1 về thời gian, số tiền vay, lãi suất vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng và tài sản thế chấp. Vợ chồng ông N, bà H2 thừa nhận tính đến ngày 23/5/2025 vợ chồng ông còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 1.218.771.866 (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó: tiền gốc 849.950.580 đồng, lãi trong hạn 10.619.178 đồng, lãi phạt trong hạn 1.949.274 đồng, lãi phạt quá hạn 356.252.834 đồng. Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng ông đang gặp khó khăn về kinh tế nên chỉ đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền gốc 849.950.580 đồng, tiền lãi trong hạn 10.619.178 đồng và lãi phạt trong hạn 1.949.274 đồng; đối với tiền lãi phạt quá hạn 356.252.834 đồng thì yêu cầu Ngân hàng tạo điều kiện giảm cho vợ chồng ông để có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng TMCP N1. Vợ chồng ông N, bà H2 thống nhất trường hợp vợ chồng ông không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm (Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0133/2022/405-TD-BĐ Công chứng tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh B ngày 21/7/2022) được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.

Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ H1, bà Bùi Thị B và lời khai của người đại diện theo ủy quyền của ông H1, bà B trong quá trình giải quyết vụ án ông Võ Trọng N trình bày:

Ông Võ H1, bà Bùi Thị B là cha mẹ ruột của ông Võ Trọng N. Để đảm bảo nợ vay của vợ chồng ông N bà H2 với Ngân hàng Thương Mại Cổ phần N1, vợ chồng ông H1 có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 266, tờ bản đồ số 34, diện tích 755,3m² (200m2 đất ở và 555,3m² đất trồng cây lâu năm) tọa lạc tại khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông H1 bà B, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 107079, số vào sổ cấp GCN: H00244 do UBND huyện H, tỉnh Bình Định cấp ngày 06/8/2007; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0133/2022/405-TD-BĐ được công chứng tại Phòng C tỉnh Bình Định ngày 21/7/2022. Vợ chồng ông H1 bà B và ông Nghĩa L người đại diện theo ủy quyền của ông H1, bà B thống nhất trường hợp vợ chồng ông N, bà H2 không trả hoặc trả không hết nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phù hợp với quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 91, 95 và 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Luật Các tổ chức tín dụng); các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, buộc vợ chồng ông Võ Trọng N bà Huỳnh Thị H liên đới trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền 1.218.771.866 (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi sáu) đồng, tính đến ngày 23/5/2025. Ngoài ra, vợ chồng ông N bà H còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng từng lần, giấy nhận nợ đã ký kết giữa các bên cho đến ngày trả hết nợ.

Trường hợp ông N bà H thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 0133/2022/405-TD-BĐ ngày 21/7/2022 và được Công chứng tại phòng C1 tỉnh Bình Định số công chứng 4224, Quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông N, bà H phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa;căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP N1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, yêu cầu vợ chồng ông Võ Trọng N bà Huỳnh Thị H trả cho Ngân hàng tổng số tiền 1.218.771.866 đồng (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi sáu); trong đó nợ gốc 849.950.580 đồng, lãi trong hạn 10.619.178 đồng, lãi phạt trong hạn 1.949.274 đồng, lãi phạt quá hạn 356.252.834 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận ngày 21/7/2022, Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh Q - Phòng G cùng vợ chồng ông Võ Trọng N bà Huỳnh Thị H ký kết hợp đồng tín dụng từng lần số 0152/2022/405-TD-CV và giấy nhận nợ số: 01/GNN-0152/2022/405-TD-CV ngày 22/7/2022, với nội dung vợ chồng ông N bà H vay Ngân hàng số tiền 850.000.000 đồng, lãi suất vay 11,5%/năm trong 03 tháng đầu tiên, điều chỉnh 03 tháng/lần, thời hạn trả tiền vào ngày 22/7/2023, phương thức trả vào ngày 22 định kỳ 01 tháng/lần. Do đó, căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định, Ngân hàng TMCP N1 cho vợ chồng ông N bà H vay số tiền trên là có thật và đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

Vợ chồng ông N bà H thừa nhận, đến ngày 23/5/2025, vợ chồng ông bà còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 1.218.771.866 (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó: tiền gốc 849.950.580 đồng, lãi trong hạn 10.619.178 đồng, lãi phạt trong hạn 1.949.274 đồng, lãi phạt quá hạn 356.252.834 đồng. Tuy nhiên, vợ chồng ông N bà H thống nhất trả cho Ngân hàng các khoản tiền bao gồm: tiền gốc 849.950.580 đồng, lãi trong hạn 10.619.178 đồng, lãi phạt trong hạn 1.949.274 đồng, tổng cộng 862.519.032 đồng; đối với khoản tiền lãi phạt quá hạn 356.252.834 đồng thì vợ chồng ông N bà H đề nghị Ngân hàng xem xét giảm khoản tiền lãi trên để vợ chồng ông có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, yêu cầu của vợ chồng ông N bà H không được Ngân hàng TMCP N1 chấp nhận. Căn cứ hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ hai bên ký kết, xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng TMCP N1 là phù hợp với quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận

[2.2] Xét hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP N1 và vợ chồng ông N bà H là phù hợp với quy định tại các Điều 91, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463 Bộ luật Dân sự. Yêu cầu của Ngân hàng TMCP N1 là phù hợp với quy định tại Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử buộc vợ chồng ông N bà H (tính đến ngày 23/5/2025) phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 tổng cộng 1.218.771.866 (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi sáu) đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 24/5/2025 đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định pháp luật

[2.3] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Căn cứ Hợp đồng thế chấp tài sản (Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) số: 0133/2022/405-TD-BĐ ngày 21/7/2022 giữa vợ chồng ông Võ H1 bà Bùi Thị B và Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 được công chứng tại Phòng C tỉnh Bình Định, số công chứng 4224, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh thị xã H ngày 21/7/2022. Xét yêu cầu của Ngân hàng, sự thỏa thuận của bị đơn và đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trường hợp ông Võ Trọng N bà Huỳnh Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 266, tờ bản đồ số 34, diện tích 755,3m² (200m² đất ở và 555,3m² đất trồng cây lâu năm) địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông H1 bà B để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại các Điều 299, 317, 320, 321, 322, 323 Bộ luật Dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Sau khi xử lý tài sản thế chấp nêu trên mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì vợ chồng ông N bà H phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

[3] Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phù hợp với nhận định trên nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Về chi phí Xem xét thẩm định tại chỗ: Vợ chồng ông N bà H phải chịu theo quy định. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 đã nộp tạm ứng 2.000.000 đồng, do đó, vợ chồng ông N bà H phải hoàn trả 2.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP N1.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông N bà H phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 288, 299, 317, 320, 321, 322, 323, 463, 466, 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1. Buộc vợ chồng ông Võ Trọng N bà Huỳnh Thị H liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền (tính đến ngày 23/5/2025) là 1.218.771.866 (một tỷ hai trăm mười tám triệu bảy trăm bảy mươi mốt ngàn tám trăm sáu mươi sáu) đồng; trong đó, nợ gốc: 849.950.580 (tám trăm bốn mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn năm trăm tám mươi) đồng, lãi trong hạn 10.619.178 (mười triệu sáu trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi tám) đồng, lãi phạt trong hạn 1.949.274 (một triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi bốn) đồng, lãi phạt quá hạn 356.252.834 (ba trăm năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn) đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (23/5/2025) vợ chồng ông N bà H còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng từng lần, giấy nhận nợ đã ký kết giữa các bên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp vợ chồng ông N bà H không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 266, tờ bản đồ số 34, diện tích 755,3m² (200m² đất ở và 555,3m² đất trồng cây lâu năm) địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 107079, số vào sổ cấp GCN: H00244 do UBND huyện H, tỉnh Bình Định cấp ngày 06/8/2007 cho vợ chồng ông Võ H1 bà Bùi Thị B, theo Hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) số : 0133/2022/405-TD-BĐ được công chứng tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh B ngày 21/7/2022, số công chứng 4224, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh thị xã H ngày 21/7/2022 để thu hồi nợ.

    Sau khi xử lý tài sản thế chấp nêu trên mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì vợ chồng ông N bà H phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

  3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 2.000.000 (hai triệu) đồng, vợ chồng ông N bà H phải chịu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 đã nộp tạm ứng 2.000.000 (hai triệu) đồng, do đó, vợ chồng ông N bà H phải hoàn trả 2.000.000 (hai triệu) đồng cho Ngân hàng TMCP N1.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Võ Trọng N, bà Huỳnh Thị H phải chịu 24.281.578 (hai mươi bốn triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi tám) đồng sung vào công quỹ Nhà nước.
  5. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 20.806.300 (hai mươi triệu tám trăm lẻ sáu nghìn ba trăm) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 006710 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.

  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoài Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 218/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger