|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 218/2025/DS-PT Ngày: 11 - 6 - 2025 V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập;
Bà Bùi Thị Phương Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Linh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2025/TLPT-DS ngày 21 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Q, Sinh năm:1963, cư trú tại : Nhà không số, đường T, Khóm E, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thái Huyền T, sinh năm 1952, cư trú tại: Số C, Q, khóm D, phường E, Thành phố C.
Bị đơn: Bà Trương Thu H, sinh năm: 1963, cư trú tại: Nhà không số, đường T, Khóm G, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đào Công K, sinh năm 1964, cư trú tại: A, Lê Hồng P, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Thái S, sinh năm: 1960, cư trú tại: Nhà không số, đường T, Khóm G, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Do có kháng cáo của: Bà Bùi Thị Q - là nguyên đơn
Bà Bùi Thị Q, ông Thái Huyền T, bà Trương Thu H, ông Đào Công K có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị Q trình bày: Bà Trương Thu H có vay tiền của bà nhiều lần, cụ thể:
- Khoản vay thứ nhất: Vào ngày 06/02/2003 bà H vay số tiền 30.000.000đ. Quá trình vay bà H đã trả được 1.000.000đ tiền lãi vào ngày 01/12/2004. Nay bà Q yêu cầu bà H phải trả cho bà số tiền gốc 30.000.000đ và tiền lãi tính từ ngày vay là ngày 06/2/2003 đến ngày 20/3/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) là 265 tháng 14 ngày x 1,66%/tháng x 30.000.000đ = 131.970.000đ. Tổng cộng vốn và lãi là 162.202.400đ, trừ 1.000.000đ lãi đã trả còn lại 161.202.400đ.
- Khoản vay thứ hai: Vào ngày 01/7/2003 bà H vay số tiền 30.000.000đ. Quá trình vay bà H đã trả được 1.000.000đ tiền lãi vào ngày 30/12/2004. Nay bà Q yêu cầu bà H phải trả cho bà số tiền gốc 30.000.000đ và tiền lãi tính từ ngày vay là ngày 01/7/2003 đến ngày 20/3/2025 là 260 tháng 19 ngày x 1,66%/tháng x 30.000.000đ = 129.480.400đ. Tổng cộng vốn và lãi là 159.795.400đ, trừ 1.000.000đ tiền lãi đã trả còn lại 158.795.400đ.
- Khoản vay thứ ba: Vào ngày 01/10/2003 bà H vay số tiền 60.000.000đ. Quá trình vay bà H đã trả được 1.000.000đ tiền lãi vào ngày 30/02/2005. Nay bà Q yêu cầu bà H phải trả cho bà số tiền gốc 60.000.000đ và tiền lãi tính từ ngày vay là ngày 01/10/2003 đến ngày 20/3/2025 là 257 tháng 19 ngày x 1,66%/tháng x 60.000.000đ = 255.972.800đ. Tổng cộng vốn và lãi là 316.602.800đ, trừ 1.000.000đ tiền lãi đã trả còn lại 315.602.800đ.
Các khoản vay này lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng, không ghi vào biên nhận, thời hạn vay cụ thể bà H chỉ nói khi nào bà H hốt hụi sẽ trả, việc vay tiền hai bên có viết biên nhận bà H ký tên, bà Q đã giao đủ tiền cho bà H nhận. Bà H chỉ trả tổng cộng 3.000.000đ tiền lãi, chưa trả vốn.
Đồng thời, ngày 01/12/2003, bà có đưa bà H 10.000.000đ để cho người khác vay, hai bên thỏa thuận không tính lãi suất. Nay bà yêu cầu bà H trả số tiền vốn 10.000.000đ và tiền lãi từ ngày 20/10/2003 đến ngày 20/3/2025 là 257 tháng x 1.66%/tháng x 10.000.000đ bằng 42.662.000đ. Tổng vốn và lãi là 52.662.000đ.
Tổng cộng số vốn bà H chưa trả là 130.000.000đ, lãi 580.084.000đ. Tổng vốn và lãi là 691.262.600đ, bà yêu cầu bà H trả cho bà. Trong thời gian cho vay bà có đến nhà bà H yêu cầu trả nợ nhiều lần nhưng bà H cứ hứa nhưng đến nay không trả. Do bạn bè tin tưởng nhau nên bà cứ đợi bà H trả nợ nên kéo dài thời gian đến năm 2024 bà mới khởi kiện ra Tòa. Việc bà H vay tiền ông Dương Thái S là chồng của bà H có biết nên bà yêu cầu ông S phải có trách nhiệm liên đới cùng thanh toán số nợ trên với bà H.
Khi vay tiền bà H có đưa cho bà 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) tên hộ ông (bà) Dương Thái S để làm tin và thế chấp 01 căn nhà thuộc quyền sở hữu của bà H là căn nhà số G, đường T, khóm G, phường H, thành phố C, tuy nhiên việc thế chấp hai bên không có làm hợp đồng, không có công chứng chứng thực, hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Nay bà đồng ý trả bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ cho bà H khi bà H trả hết nợ cho bà. Đối với việc thế chấp căn nhà do hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói và việc thế chấp không đúng quy định pháp luật nên bà không yêu cầu gì đối với thỏa thuận nhà này. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
Bà không đồng ý với kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 08/10/2024 và kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C.
Quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa, bị đơn bà Trương Thu H trình bày:
Ngày 06/02/2003 bà H có vay của bà Q số tiền 30.000.000đ, bà không biết lãi suất bao nhiêu phần trăm nhưng mỗi tháng bà có đóng lãi số tiền 450.000đ. Bà đã trả lãi nhiều lần nhưng không nhớ số tiền bao nhiêu.
Đến ngày 01/10/2003 bà Q yêu cầu ghi biên nhận trả lãi, gốc nhập chung là 60.000.000 đồng, trong đó có số tiền 30.000.000đ của khoản vay ngày 06/02/2003. Thời điểm này bà có ghi thêm vào biên nhận với nội dung đưa cho bà Quy bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ tên Dương Thái S. Bà đã trả lãi nhiều lần nhưng không nhớ số tiền bao nhiêu.
Đến ngày 04/9/2006 âm lịch do không có tiền trả cho bà Q nên bà Q yêu cầu ghi biên nhận với nội dung tổng cộng vốn lãi 90.000.000đ và yêu cầu bà trả góp trong vòng 72 tháng, mỗi tháng góp 1.000.000đ, vốn lãi góp 1.250.000đ cho đến khi dứt nợ. Thực hiện theo thỏa thuận bà bắt đầu góp từ ngày 4/9/2006 đến ngày 04/6/2007 âm lịch tổng cộng số tiền góp được là 7.500.000đ. Trong đó vốn là 5.000.000đ, lãi là 2.500.000đ.
Đồng thời, ngày 01/12/2003, bà Q có đưa cho bà số tiền 10.000.000đ, bà Q nói đưa cho bà Hai N vay nhưng do sau đó bà làm mất số tiền này nên nay bà đồng ý trả cho bà Q, do lúc đưa tiền bà Q không có thỏa thuận lãi suất nên nay bà không đồng ý trả lãi.
Bà đồng ý trả cho bà Q tổng cộng số tiền vay đối với 2 biên nhận là 55.000.000đ và số tiền 10.000.000đ, tổng cộng là 60.000.000đ trừ số tiền gốc 5.000.000đ đã trả còn lại số tiền là 55.000.000đ và 10.000.000đ tiền đưa cho bà Hai N. Tuy nhiên bà đồng ý trả 90.000.000 đ theo biên nhận tổng kết ngày 04/9/2006 âm lịch và 10.000.000đ, tổng cộng là 100.000.000đ.
Đối với tiền lãi, bị đơn xác định đã hết thời hiệu khởi kiện nên yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu để không chấp nhận phần yêu cầu lãi suất của nguyên đơn.
Đồng thời, bà yêu cầu bà Q trả lại cho bà bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ tên hộ ông (bà) Dương Thái S khi bà trả hết số tiền 100.000.000đ cho bà Q. Bà xác định bà và ông Dương Thái S là vợ chồng hợp pháp, ông bà đã sống ly thân, ông S thường xuyên vắng nhà, thời điểm vay tiền ông S không biết, ông S không có ở nhà, số tiền vay bà dùng vào việc sửa nhà và lo cho con cái, chi tiêu trong gia đình. Do đó, bà không đồng ý với việc nguyên đơn yêu cầu ông S cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ với bà. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
Bà đồng ý với kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 08/10/2024 và kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C.
Quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Thái S trình bày: Ông là chồng của bà Trương Thu H, ông bà chung sống với nhau khoảng hơn 40 năm nay. Đối với khoản vay mà bà Bùi Thị Q khởi kiện yêu cầu bà Trương Thu H trả cho bà Q ông xác định là ông không biết gì đối với khoản vay này, ông cũng không biết việc bà H thế chấp bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên ông cho bà Q vì ông và bà H tuy vẫn còn sống chung nhà nhưng ông bà đã sống ly thân thời gian đã lâu nhưng ông bà chưa làm thủ tục ly hôn, thời điểm năm 2003 ông chỉ lo làm ăn thường xuyên vắng mặt tại nhà. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ với bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Q. Buộc bị đơn bà Trương Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Thái S thanh toán cho bà Bùi Thị Q số tiền tổng cộng là 100.000.000đ.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền vốn 30.000.000đ.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Q về việc yêu cầu bà Trương Thu H, ông Dương Thái S thanh toán tiền lãi suất 580.084.000đ.
- Buộc bà Bùi Thị Q trả cho bà Trương Thu H và ông Dương Thái S 01 bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ số Y 462507 đứng tên hộ ông (bà) Dương Thái S do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 29/10/2003.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ Thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 31/3/2025 bà Bùi Thị Q kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm những vấn đề sau: Bà không đồng ý kết quả giám định; Không đồng ý về việc cấp sơ thẩm xác định hết thời hiệu; Yêu cầu bà H và ông S trả 130.000.000đ tiền vốn và 580.084.000đ tiền lãi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Bùi Thị Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xác định kháng cáo 03 vấn đề theo đơn kháng cáo:
- Không đồng ý kết quả giám định;
- Không đồng ý về việc cấp sơ thẩm xác định hết thời hiệu;
- Yêu cầu bà H và ông S trả 130.000.000đ tiền vốn và 580.084.000đ tiền lãi.
Bị đơn bà Trương Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Thái S yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, theo hướng vẫn còn thời hiệu khởi kiện, chấp nhận số vốn vay còn 60.000.000đ và tính lãi theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về kết quả giám định: Bà Q không đồng ý với Kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 08/10/2024 và kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C nhưng bà Q không đưa ra được căn cứ gì để cho rằng kết luận giám định không chính xác, có vi phạm pháp luật. Do đó, kháng cáo của bà Q về việc không đồng ý với Kết luận giám định nêu trên, không được chấp nhận.
- Về thời hiệu.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Trương Thu H trình bày: Vào năm 2019 bà Q có gặp bà để đòi nợ, bà hẹn khi nào bán được đất thì sẽ trả nợ, nhưng đến nay bàn vẫn chưa bán được nên chưa trả. Nhận thấy, mặc dù theo Biên nhận ngày 04/9/2006 (bút lục 36), hàng tháng bà H đều trả tiền, đến sau lần trả vào ngày 04/4/2007, bà H ngừng trả nhưng theo sự thừa nhận của bà H là đến năm 2019 giữa bà H và bà Q đã thỏa thuận với nhau là khi nào bà H bán đất sẽ trả tiền nợ cho bà Q.
- Một trong những nguyên tắc để giải quyết vụ án dân sự là đảm bảo sự công bằng giữa các đương sự. Việc giao dịch vay tiền giữa các bên là sự thật, nếu bà Q không giữ giấy chứng nhận QSDĐ của bà H và bà H không hứa hẹn bán đất sẽ trả nợ thì bà Q sẽ khởi kiện sớm hơn, thì quyền lợi về việc được chấp nhận phần lãi suất là điều hoàn toàn xảy ra. Do đó, với việc năm 2019 bà H thừa nhận nợ và các bên tự thỏa thuận với nhau khi nào bán đất sẽ trả nợ thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại, và khi thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại thì bà Q với việc giữ giấy chứng nhận QSDĐ của bà H cùng với lời hứa hẹn của bà H là bán được đất sẽ trả nợ, do đó bà Q không biết và không phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Từ những tình tiết nêu trên, căn cứ các Điều 154, 155, 157 Bộ luật dân sự (BLDS), yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bị đơn không được chấp nhận. Do đó, kháng cáo của bà Q về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện, được chấp nhận.
- Về số tiền vay 30.000.000đ theo biên nhận ngày 01/7/2003.
Tại kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 08/10/2024 kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên "Trương Thu Hồng" trên biên nhận ngày 6/2/2003 và biên nhận ngày 01/10/2003 đối với các mẫu so sánh chữ ký, chữ viết bà Trương Thu H là do cùng một người viết ra". Chữ ký, chữ viết họ tên "Trương Thu Hồng" trên biên nhận ngày 01/7/2003 đối với các mẫu so sánh chữ ký, chữ viết bà Trương Thu H là không phải do cùng một người viết ra.
Từ đó cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền 30.000.000đ đối với biên nhận ngày 01/7/2003 là có căn cứ.
- Đối với số tiền vay khác.
- Tại kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: Đối với chữ ký và chữ viết tại biên nhận có nội dung: “...4/9...4/6...” (bút lục 36) so với mẫu chữ ký, chữ viết của bà Bùi Thị Q tại các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra. Từ đó có căn cứ xác định lời trình bày của bị đơn là có căn cứ. Do đó xác định sau các lần vay tiền nguyên đơn và bị đơn có viết biên nhận tổng kết nợ với nội dung: “Bị đơn có thế chấp cho nguyên đơn 01 sổ chủ quyền với số tiền là 60.000.000 đồng. Bị đơn góp cho nguyên đơn mỗi tháng 1.250.000 đồng, vốn và lãi cộng chung là 90.000.000 đồng, góp trong thời hạn 72 tháng kể từ ngày 04/9/2006 âm lịch”. Bị đơn đã góp được số tiền 7.500.000 đồng thì ngưng cho đến nay.
- Tại biên bản hòa giải ngày 30/7/2024, nguyên đơn là bà Quy trình B: “Bà cho bà H vay tiền nhiều lần, mỗi lần đưa một ít bà không nhớ mỗi tháng bao nhiêu, nhưng hai bên có ghi bên nhận tổng kết lại số nợ là 03 biên nhận trên. Bà H có viết cho bà 01 “giấy ngày 01/11/2003”...” (bút lục 22, 23). “Giấy ngày 01/11/2003” mà bà Q trình bày nêu trên, có đoạn thể hiện: “Tổng cộng ... chục triệu, đóng lời được bốn triệu, còn nợ lại 27 tháng lời hai chục triệu hai trăm năm chục ngàn. Bây giờ tôi không còn lối ra hết đường binh tôi xin Qui cho tôi xin số lời nầy là 27 tháng cho dứt điểm, còn số vốn là ... chục triệu, Q1 cho tôi xin trả dần từng tháng, vốn lẫn lời là mỗi tháng một triệu hai năm chục ngàn. Tất cả là 27 tháng, ra vừa vốn lẫn lời là chín chục triệu, tôi hy vọng rằng Qui chấp nhận cho tôi” (bút lục 44). Trong “Giấy ngày 01/11/2003” nêu trên, những dấu ... thể hiện có sửa chữ “sáu” thành chữ “chín”.
[4.3] Từ nội dung tại biên nhận ngày 4/9/2006 âm lịch và “Giấy ngày 01/11/2003” nêu trên, có căn cứ xác định sau quá trình vay, đến ngày 01/11/2003 đôi bên có tổng kết nợ; bà H còn nợ lại bà Q 60.000.000đ vốn và nợ 27 tháng tiền lãi, tổng số tiền vốn và lãi là 90.000.000đ.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 10.000.000đ, tại cấp sơ thẩm bị đơn thừa nhận số tiền này là tiền mượn riêng nhưng bà đã làm mất và đồng ý tự nguyện trả cho nguyên đơn 10.000.000đ. Cấp sơ thẩm chấp nhận, là có căn cứ.
- Tổng tiền vốn bà H phải trả bà Q là 60.000.000đ (tiền vay) + 10.000.000đ (tiền mượn) = 70.000.000đ.
- Bà Q yêu cầu bà H trả vốn 130.000.000đ. Hội đồng xét xử phúc thẩm buộc bà H trả vốn 70.000.000đ, không chấp nhận yêu cầu của bà Q về số tiền vốn là 60.000.000đ.
- Về yêu cầu thanh toán lãi.
- Theo biên nhận ngày 04/9/2006 âm lịch (đã được kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận là do bà Bùi Thị Q viết), thể hiện bà H đã trả lãi được tổng 7.500.000đ.
- Bà Q xác định lãi suất cho vay là 3%/tháng. Tại phiên tòa, bà H xác định lãi suất vay là 3%/tháng (bút lục 177). Các đương sự thỏa thuận lãi suất vay là 3%/tháng là cao so với quy định của BLDS, nên được điều chỉnh lại.
- Lãi suất được tính từng khoảng thời gian tương ứng với quy định về lãi, lãi suất của BLDS từng thời điểm, cụ thể như sau:
- Từ ngày 01/11/2003 đến ngày 31/12/2005 là 02 năm 01 tháng 30 ngày. Áp dụng khoản 1 Điều 473 BLDS năm 1995, lãi suất được áp dụng là 0,65%/tháng (7,8% /năm): 60.000.000đ x 0,65%/tháng x 25 tháng 30 ngày = 10.140.000đ.
- Từ ngày 01/01/2006 đến ngày 31/12/2015 là 10 năm. Áp dụng khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005, lãi suất được áp dụng là 1,125%/tháng (13,5%/năm): 60.000.000đ x 13,5%/năm x 10 năm = 81.000.000đ.
- Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 21/3/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) là 08 năm 02 tháng 20 ngày. Áp dụng khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015, lãi suất được áp dụng là 1,66%/tháng (20%/năm): 60.000.000đ x 1,66%/tháng x 98 tháng 20 ngày = 98.272.000đ
Tổng lãi tính theo quy định, đối trừ lãi đã đóng, số lãi còn phải trả: (10.140.000đ + 81.000.000đ + 98.272.000đ) – 7.500.000đ = 181.912.000đ.
- Đối với số tiền 10.000.000đ, tại đơn khởi kiện bà Q xác định là tiền đưa bà Hồng M (bút lục 07) và tại biên bản hòa giải ngày 30/7/2024 bà Q xác định ngày 01/12/2003 bà H mượn 10.000.000đ, chỉ cho mượn không có viết biên nhận, không có lãi (bút lục 23). Do đó, yêu cầu tính lãi của bà Q đối với số tiền 10.000.000đ không được chấp nhận.
- Tổng vốn và lãi bà H và ông S phải thanh toán cho bà Q: 70.000.000đ + 181.912.000đ = 251.912.000đ.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Q về số tiền lãi là: 580.084.000đ – 181.912.000đ = 398.172.000đ.
- Nhận thấy, tuy cấp sơ thẩm bà H đồng ý tự nguyện trả cho bà Q tổng cộng 100.000.000đ nhưng đã bao gồm tiền lãi theo biên nhận tổng kết ngày 04/9/2006. Nay cấp phúc thẩm chấp nhận áp dụng thời hiệu, nên phải tính lại tiền vốn và tiền lãi phải trả như trên.
- Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, kháng cáo của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm số 67/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo hướng không áp dụng thời hiệu khởi kiện, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tiền lãi, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa.
- Chi phí giám định: Đại diện Viện kiểm sát xác định 02 biên nhận đúng chữ ký, chữ viết của bà H; 01 biên nhận không phải chữ ký, chữ viết của bà H, 01 biên nhận đúng chữ ký, chữ viết của bà Q, nên bà H và bà Q mỗi người phải chịu ½ chi phí giám định = 5.870.000đ (bà Q và bà H đã nộp xong).
- Án phí: Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Q, bà Trương Thu H, ông Dương Thái S được miễn nộp theo quy định (người cao tuổi). Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bùi Thị Q được miễn nộp theo quy định.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Bùi Thị Q, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2025/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Q. Buộc bị đơn bà Trương Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Thái S thanh toán cho bà Bùi Thị Q số tiền tổng cộng là 251.912.000đ (hai trăm năm mươi mốt triệu chín trăm mười hai ngàn đồng), trong đó vốn 70.000.000đ, lãi 181.912.000đ.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền vốn 60.000.000đ và số tiền lãi 398.172.000đ.
- Chi phí giám định: Bà Q và bà H mỗi người phải chịu ½ chi phí giám định (đã nộp xong).
- Buộc bà Bùi Thị Q trả cho bà Trương Thu H và ông Dương Thái S 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 462507 đứng tên hộ ông (bà) Dương Thái S do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 29/10/2003.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Bùi Thị Q, bà Trương Thu H, ông Dương Thái S được miễn nộp theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bà Bùi Thị Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trương Thu H, ông Dương Thái S không tự nguyện thi hành xong thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Bùi Thị Phương Loan |
Nguyễn Thành Lập |
Đỗ Cao Khánh |
11
Bản án số 218/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 218/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Bùi Thị Q - Trương Thu H
