Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2025/DS-PT

Ngày: 02 - 4 - 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Ông Đinh Tiền Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 391/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 39/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • 1.1. Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1953.
  • 1.2. Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1958.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Văn N (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 11/5/2022).

2. Bị đơn:

  • 2.1. Bà Võ Thị T1, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

  • 2.2. Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

  • 2.3. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà M: Ông Nguyễn Văn L (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 07/11/2022).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Tấn P: Luật sư Thái Hoàng D - Đoàn Luật sư tỉnh L.

3. Người làm chứng:

  • 3.1. Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1964.
  • 3.2. Ông Huỳnh Văn M1, sinh năm 1954.
  • 3.3. Ông Huỳnh Văn M2, sinh năm 1956.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Nguyễn Hoàng T, bà Huỳnh Thị Q do ông Ngô Văn N là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Bà Huỳnh Thị Q là chị ruột ông Huỳnh Tấn P. Ông Nguyễn Hoàng T là chồng bà Q.

Ông Nguyễn Hoàng T là chủ sử dụng thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp năm 2009.

Nguồn gốc thửa đất số 494, diện tích 1.282m², tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An là của ông Huỳnh Văn M3 (cha của bà Q và ông P) để lại, ông P kê khai đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997.

Ngày 19 tháng 12 năm 2008, tại Ủy ban nhân dân xã T, ông P ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hoàng T đối với thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông T được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 494 vào ngày 15/01/2009.

Ông T và bà Q (vợ ông T) đã trực tiếp quản lý, canh tác trên thửa đất này.

Vào ngày 14/11/2021, bà Võ Thị T1 đã xây dựng hàng rào trên thửa đất của gia đình ông T, bà Q nên ông T và bà Q có đến Ban Q1 để trình báo. Ngày 15/11/2021, ông Lê Bảo T3 (người đại diện cho Ban Q1) đến hiện trạng thửa đất để xác minh thì ông T3 đã chứng kiến vụ việc bà T1 xây dựng hàng rào trên thửa đất thuộc quyền sử dụng đất của ông T và bà Q. Ông T3 có lập biên bản ghi nhận lại hiện trạng việc xây rào. Sự việc đã được Ủy ban nhân dân xã T giải quyết nhưng không thành. Sau này, ông P và vợ ông P là bà M tự nhận thửa đất nêu trên là thuộc quyền sử dụng của ông bà, ông bà tự xây dựng hàng rào chứ không phải bà T1 xây dựng.

Nay ông T và bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P và bà Nguyễn Thị Tuyết M phải tháo dỡ hàng rào đã xây dựng, khôi phục lại bờ ranh thửa đất đúng với hiện trạng ban đầu, trả lại cho ông T và bà Q đúng diện tích đất 1.282m² thuộc thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất HNK, đất tại ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

Đồng thời, ông T và bà Q hoàn toàn không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông P, bà M về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông P với ông T liên quan đến thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An và về việc công nhận quyền sử dụng cho ông P đối với thửa đất trên để ông P được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bị đơn ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M do ông Nguyễn Văn L trình bày:

Ông P có mối quan hệ anh em rể với ông Nguyễn Hoàng T, bà Huỳnh Thị Q là chị gái ruột của ông P.

Nguyên trước đây, vào năm 2009, cha ông là ông Huỳnh Văn M3 có cho vợ chồng bà Huỳnh Thị Q một phần đất để cất nhà sinh sống. Do tin tưởng là người trong nhà nên khi làm thủ tục tặng cho, cha ông có yêu cầu ông giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đầy cho anh rể ông là ông Nguyễn Hoàng T liên hệ đến Ủy ban nhân dân xã T làm thủ tục, cả gia đình ông đều nghĩ rằng thửa đất mà cha ông cho bà Q nằm trong các thửa đất có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không biết chính xác là thửa nào.

Không biết lý do vì sao ông T lại nhờ cán bộ địa chính xã làm thủ tục tặng cho thửa đất số 494, tờ bản đồ số 17, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Hiện nay, ông T đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 494.

Đến năm 2021, bà Q lại tiếp tục kê khai và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với căn nhà mà bà Q và ông T đang sinh sống là thửa số 311, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.909m², đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Tuy nhiên, việc bà Q đi kê khai đứng tên thửa đất số 311, tờ bản đồ số 17 cũng tự ý ký tên ông và lấy ý kiến dân cư mà không có biên bản họp gia đình.

Liên quan đến thửa đất số 494, tờ bản đồ số 17, ông P vẫn là người quản lý và canh tác từ năm 2009 cho đến nay. Đến tháng 12 năm 2021, ông có xây dựng hàng rào trên đất thì mới phát hiện đã tặng cho nhầm ông T và bà Q nên đã đến nhà trình bày và ông T, bà Q cũng đồng ý sang tên lại giấy chứng nhận cho ông P và ông P được tiếp tục sử dụng hàng rào theo vị trí đất tại thửa đất số 494, tờ bản đồ số 17. Khoảng 01 tuần sau, ông P có đến nhà ông T, bà Q yêu cầu ông bà sang tên lại thửa đất cho ông P đã tặng cho nhầm thì phía ông T, bà Q lại không đồng ý. Ngoài ra, khi ông P ký tặng cho ông T thì vợ ông P không biết, không đồng ý việc ký tặng cho thửa đất 494.

Nay ông P có yêu cầu phản tố, cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Tấn P với ông Nguyễn Hoàng T liên quan đến thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông P để ông P được đăng ký kê khai quyền sử dụng đất.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:

Bà thống nhất theo lời trình bày của ông P, bà yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Tấn P với ông Nguyễn Hoàng T đối với thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Lý do, thửa đất trên là tài sản của bà và của ông P trong thời kỳ hôn nhân, việc ông P tặng cho ông T thì bà không hề hay biết.

Người làm chứng là ông Huỳnh Văn M2, ông Huỳnh Văn M1 và ông Huỳnh Văn T2 trình bày:

Thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An là do ông P trực tiếp canh tác, quản lý là trồng cây ngắn ngày như đậu, bắp...mấy chục năm nay. Các ông khẳng định ông T và bà Q không phải là người quản lý đối với thửa đất nêu trên. Trước đây, ông Huỳnh Văn M3 là cha của ông P và bà Q có cho riêng bà Q một thửa đất để cất nhà, nay là thửa 311, ờ bản đồ số 17, đất tại xã T, hiện vợ chồng ông T và bà Q đang sinh sống trên đất này.

Nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất theo Mảnh trích đo số 199-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/4/2022 và Chứng thư thẩm định giá số 193/01/06/2023/TĐG LA – BĐS ngày 01/6/2023 của Công ty cổ phần T4.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 391/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; Điều 26, 166, 203 của Luật đất đai năm 2013; Điểm a khoản 2 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng T, bà Huỳnh Thị Q do ông Ngô Văn N là người đại diện theo ủy quyền về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M do ông Nguyễn Văn L là người đại diện theo ủy quyền.

    Buộc bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M có trách nhiệm liên đới tháo dỡ hàng rào đã xây dựng, trả lại cho ông T và bà Q thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất HNK, đất tại ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An, vị trí và tứ cận đất theo Mảnh trích đo địa chính số 170-2024 theo Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 09/4/2024.

  2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M do ông Nguyễn Văn L là người đại diện theo ủy quyền với ông Nguyễn Hoàng T, bà Huỳnh Thị Q do ông Ngô Văn N là người đại diện theo ủy quyền về việc yêu cầu:
    • Vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Tấn P với ông Nguyễn Hoàng T liên quan đến thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
    • Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông P để ông P được đăng ký kê khai quyền sử dụng đất.
    • Buộc ông T và bà Q có trách nhiệm liên đới trả cho ông bà số tiền 177.667.000đồng.
  3. Về chi phí thẩm định, định giá, đo đạc: Buộc Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Hoàng T số tiền 51.000.000 đồng.

    Ông P chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định, đã nộp và chi phí xong.

    Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông P chịu 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung công quỹ nhà nước nhưng được khấu trừ số tiền đã nộp tại biên lai thu số 0007509 ngày 12/12/2022; biên lai thu số 0005529 ngày 30/8/2024 và biên lai thu số 0005561 ngày 06/9/2024.

Bà M phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung công quỹ nhà nước nhưng được khấu trừ 600.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005532 ngày 30/8/2024 và biên lai thu số 0005559 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa.

Ông P và bà M phải liên đới chịu 8.883.350 đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung công quỹ nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005560 ngày 06/9/2024 ông P đã nộp, số tiền còn lại 8.583.350 đồng, ông P và M có trách nhiệm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Bà T1 được miễn án phí.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 02/10/2024, bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Ngày 03/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước kháng nghị đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông P là Luật sư Thái Hoàng D trình bày:

  • Nguồn gốc của thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An là do cha mẹ ông P để lại cho ông P, qua thực tế cũng như lời trình bày của những người làm chứng thì thửa đất trên do vợ chồng vợ P quản lý, sử dụng từ năm 1985 cho tới nay, hơn 30 năm. Đồng thời, vợ chồng ông P đã xây dựng hàng rào kiên cố, ổn định như biên bản thẩm định của Tòa án.
  • Việc ông P ký hợp đồng tặng cho ông T là có sự nhầm lẫn, thể hiện, đất mà ông T đang quản lý, sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau, trong khi nhà ở được xây dựng rất lâu, điều này phù hợp với lời khai của ông P là có sự nhầm lẫn trong tặng cho quyền sử dụng đất.
  • Ông P và bà M là vợ chồng, thửa đất trên là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên, khi ký hợp đồng tặng cho với ông T thì chỉ có ông P ký, không có bà M, điều này dẫn đến hợp đồng vô hiệu.
  • Ngoài ra, không có lý do gì ông P tặng cho ông T thửa đất 494. Bà Q cho rằng lý do ông P tặng cho ông T thửa đất 494 là hoán đổi thửa đất 207 của bà Q cho ông P là không có căn cứ. Tại biên bản hòa giải ngày 14/4/2022, ông T đã đồng ý trả lại đất cho ông P nhưng không thực hiện.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông P.

Ông Ngô Văn N trình bày: Theo bản án dân sự sơ thẩm số 12/2022/DS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì ông T, bà Q ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 494 cho bà Đỗ Thị Thúy S để vay số tiền 100.000.000 đồng, bản án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 494 vô hiệu, bà S có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Q. Sau đó, ông P có thỏa thuận trả tiền cho bà S để chuộc lại thửa đất 494 nhưng các bên không thỏa thuận được mới xảy ra tranh chấp. Trước đây ông T, bà Q có thửa đất 207 liền kề với thửa đất khác của ông P, do để ông P bán đất có giá cao hơn nên ông T, bà Q đồng ý hoán đổi thửa 207 để lấy thửa đất 494, nên ông P mới ký tặng cho ông T thửa đất 494. Do đó, việc ông P tặng cho ông T thửa đất 494 là đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Kháng cáo của các bị đơn bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273, 279, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nội dung và thời hạn kháng cáo, kháng nghị đủ căn cứ và hợp pháp để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo của các bị đơn bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa nhận thấy:

Về nguồn gốc đất: Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 và lời trình bày thống nhất của các đương sự, có đủ cơ sở xác định, nguồn gốc thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.282m², loại đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An là của ông Huỳnh Văn M3 (cha của ông Huỳnh Tấn P và bà Huỳnh Thị Q) để lại cho ông P sử dụng, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.

Về quá trình sử dụng đất: Ông P và bà M xác định ông bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất từ năm 1985 đến nay đã hơn 30 năm. Quá trình giải quyết vụ án, ông Huỳnh Văn M2 (là anh ruột của bà Q và ông P) xác định thửa đất số 494 là tài sản của cha mẹ ông cho ông ở, ông M2 xây nhà ở khoảng 02 năm thì không ở nữa, trả lại đất cho cha ông, sau đó cha ông cho con út là ông P phần đất này, ông P là người sử dụng thửa đất số 494 từ trước đến nay; ông Huỳnh Văn M1 (là anh ruột của bà Q và ông P) xác nhận thửa đất số 494 là cha ông cho ông P. Lời khai của ông P và bà M thống nhất và phù hợp với lời trình bày của ông M2 và ông M1 nên được xem là chứng cứ, cơ sở để đánh giá, xem xét theo quy định tại Điều 93, 94, 95, 108 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông T và bà Q trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại Đơn khởi kiện ghi ngày 23/6/2022 xác định thửa đất 494 ông bà đã cất nhà ở, sinh sống từ khoảng năm 1978 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét.

Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập năm 2008 giữa ông Huỳnh Tấn P với ông Nguyễn Hoàng T thấy rằng:

Ông P và bà M là vợ chồng, xác định thửa đất số 494 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng khi ký kết hợp đồng tặng cho không có ý kiến của bà M và bà M xác định không biết việc ông P tặng cho ông T thửa đất này.

Tại Bản tự khai ngày 23/6/2022, ông T và bà Q xác định, lý do ông P tặng cho ông T thửa đất số 494 là vì: vào ngày 22/02/2005 ông P có chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà Q thửa đất số 207, sau đó ông P có thỏa thuận với vợ chồng ông bà bán thửa đất này cùng với các thửa đất mà ông P đứng tên để được giá cao hơn, đồng thời hứa chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông T và bà Q thửa đất khác nên ngày 19/01/2008 ông P chuyển quyền sử dụng đất tại thửa số 494 cho ông T. Xét thấy, ông T và bà Q cho rằng có thỏa thuận nêu trên nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh; mặt khác, lời khai này mâu thuẫn với đơn khởi kiện như đã nêu trên, cụ thể đơn khởi kiện nguyên đơn xác định thửa đất số 494 nguyên đơn đã cất nhà ở, sinh sống từ khoảng năm 1978 (nghĩa là được cha cho đất) nhưng Bản tự khai ngày 23/6/2022 lại xác định là do có thỏa thuận, hứa hẹn với ông P.

Ngoài ra, tại Biên bản hòa giải ngày 14/4/2022 do Hội đồng hòa giải xã T, huyện Đ lập thể hiện: Ông T đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 494 lại cho ông P. Điều này cho thấy sự mâu thuẫn trong lời khai của ông T, vì nếu là đất của ông T và bà Q được cha mẹ cho thì việc chuyển nhượng lại thửa đất phải ghi rõ giá chuyển nhượng, không có lý do gì ông T đồng ý chuyển nhượng lại mà không đưa ra mức giá để các bên thỏa thuận chuyển nhượng lại.

Thửa đất số 311 liền kề thửa số 494, tại phiên tòa, nguyên đơn thừa nhận là thửa đất có nhà ở của nguyên đơn sinh sống từ trước đến nay, theo hồ sơ thể hiện, thửa đất số 311 ông T và bà Q kê khai, cấp giấy chứng nhận vào năm 2021 (sau thời điểm ông P ký tặng cho thửa số 494), hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận đối với thửa số 311 ghi nhận nguồn gốc đất là của cha mẹ để lại từ năm 1975 sử dụng ổn định. Do đó, lời trình bày của ông P cho rằng tặng cho ông T thửa đất mà ông T, bà Q đã xây nhà sinh sống theo ý nguyện của cha mẹ là phù hợp.

Căn cứ vào các chứng cứ đã phân tích nêu trên, có đủ cơ sở để xác định việc ông P xác lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất năm 2008 với ông T là do nhầm lẫn nên hợp đồng tặng cho bị vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015). Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là đánh giá chứng cứ không chính xác, chưa toàn diện, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P và bà M.

Từ những căn cứ nêu trên, kháng cáo của các bị đơn bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ tranh chấp:

Nguyên đơn tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn, yêu cầu bị đơn tháo dỡ hàng rào trả đất cho nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất là thiếu sót nên Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét kháng cáo của bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thấy rằng:

[3.1] Về nguồn gốc và quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 494, diện tích 1.282m², tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An:

Nguồn gốc thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.282m², loại đất trồng cây hàng năm, tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An là của ông Huỳnh Văn M3 (cha của bà Q và ông P) để lại. Năm 1997, ông Huỳnh Tấn P kê khai đăng ký được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 494.

Bà Huỳnh Thị Q là chị ruột ông Huỳnh Tấn P. Ông Nguyễn Hoàng T là chồng bà Q. Ngày 19 tháng 12 năm 2008, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An ông Huỳnh Tấn P ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hoàng T, tài sản tặng cho là thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.282m². Ông Nguyễn Hoàng T được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.282m² vào ngày 18/01/2009.

[3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày không thống nhất:

Ông P cho rằng khi ký hợp đồng tặng cho ông T, có sự nhầm lẫn, do ông muốn tặng cho thửa đất mà ông T, bà Q đã xây nhà sinh sống trên đó theo ý nguyện của cha mẹ, ông nghĩ thửa đất ông T, bà Q đã xây nhà sinh sống là thửa 494, nhưng sau đó ông phát hiện không phải thửa 494 mà là thửa đất 311 bà Q kê khai đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2021.

Ông T, bà Q cho rằng ông T, bà Q có thửa đất 207 liền kề với thửa đất khác của ông P, sau đó ông P có thỏa thuận với vợ chồng ông bà bán thửa đất này cùng với các thửa đất mà ông P đứng tên để được giá cao hơn, đồng thời ông P hứa chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông T và bà Q thửa đất khác nên ngày 19/01/2008 ông P ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa số 494 cho ông T.

Xét thấy, ông T và bà Q cho rằng có thỏa thuận nêu trên nhưng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh; mặt khác, lời khai của ông T và bà Q mâu thuẫn với đơn khởi kiện ban đầu, cụ thể trong đơn khởi kiện nguyên đơn xác định thửa đất số 494 nguyên đơn đã cất nhà ở, sinh sống từ khoảng năm 1978 (nghĩa là được cha cho đất) nhưng Bản tự khai ngày 23/6/2022 và lời trình bày tại phiên tòa xác định là do có thỏa thuận, trao đổi đất với ông P.

Ngoài ra, tại Biên bản hòa giải ngày 14/4/2022 do Hội đồng hòa giải xã T, huyện Đ lập thể hiện: Ông T đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 494 lại cho ông P. Điều này cho thấy sự mâu thuẫn trong lời khai của ông T, vì nếu là đất của ông T và bà Q được cha mẹ cho thì việc chuyển nhượng lại thửa đất phải ghi rõ giá chuyển nhượng, không có lý do gì ông T đồng ý chuyển nhượng lại mà không đưa ra mức giá để các bên thỏa thuận chuyển nhượng lại.

Thửa đất số 311 ông T, bà Q sử dụng cất nhà sinh sống liền kề thửa đất số 494 đang tranh chấp, tại phiên tòa, nguyên đơn thừa nhận là thửa đất có nhà ở của nguyên đơn sinh sống từ trước đến nay, theo hồ sơ thể hiện, thửa đất số 311 ông T và bà Q kê khai, cấp giấy chứng nhận vào năm 2021 (sau thời điểm ông P ký tặng cho thửa đất số 494), hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận đối với thửa số 311 ghi nhận nguồn gốc đất là của cha mẹ để lại từ năm 1975 sử dụng ổn định. Do đó, lời trình bày của ông P cho rằng tặng cho ông T thửa đất mà ông T, bà Q đã xây nhà sinh sống theo ý nguyện của cha mẹ là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của ông T, bà Q cho rằng theo bản án dân sự sơ thẩm số 12/2022/DS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì ông T, bà Q ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 494 cho bà Đỗ Thị Thúy S để vay số tiền 100.000.000 đồng, bản án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 494 vô hiệu, bà S có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Q. Sau đó, ông P có thỏa thuận trả tiền cho bà S để chuộc lại thửa đất 494 nhưng các bên không thỏa thuận được mới xảy ra tranh chấp, nhưng cũng không có chứng cứ gì chứng minh. Do đó, không chấp nhận lời trình bày của phía nguyên đơn.

[3.3] Về quá trình quản lý, sử dụng đất:

Ông P và bà M xác định ông bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất từ năm 1985 đến nay đã hơn 30 năm. Quá trình giải quyết vụ án, ông Huỳnh Văn M2 (là anh ruột của bà Q và ông P) xác định thửa đất số 494 là tài sản của cha mẹ ông cho ông ở, ông M2 xây nhà ở khoảng 02 năm thì không ở nữa, trả lại đất cho cha ông, sau đó cha ông cho con út là ông P phần đất này, ông P là người sử dụng thửa đất số 494 từ trước đến nay; ông Huỳnh Văn M1 (là anh ruột của bà Q và ông P) xác nhận thửa đất số 494 là cha ông cho ông P. Lời khai của ông P và bà M thống nhất và phù hợp với lời trình bày của ông M2 và ông M1 nên được xem là chứng cứ, cơ sở để đánh giá, xem xét theo quy định tại Điều 93, 94, 95, 108 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông T và bà Q trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại Đơn khởi kiện ghi ngày 23/6/2022 xác định thửa đất 494 ông bà đã cất nhà ở, sinh sống từ khoảng năm 1978 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh và không phù hợp với hiện trạng thực tế sử dụng, vì thửa đất 494 hiện nay là đất trống nên không có cơ sở xem xét.

[3.4] Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Tấn P với ông Nguyễn Hoàng T liên quan đến thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An:

Ông P và bà M là vợ chồng, xác định thửa đất số 494 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng khi ký kết hợp đồng tặng cho không có ý kiến của bà M và bà M xác định không biết việc ông P tặng cho ông T thửa đất này.

[4] Căn cứ vào các chứng cứ đã phân tích nêu trên, có đủ cơ sở để xác định việc ông P xác lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất năm 2008 với ông T là do nhầm lẫn nên hợp đồng tặng cho bị vô hiệu theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc ông P tặng cho ông T thửa đất 494 tại UBND xã T, đó là ý chí tự nguyện của ông P, ông P tinh thần minh mẫn, sáng suốt, không bị ai ép buộc nên việc tặng cho này là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đánh giá toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P và bà M.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định, định giá, đo đạc ở cấp sơ thẩm: Chi phí thẩm định, định giá, đo đạc là 51.000.000 đồng (Mảnh trích đo 36.000.000 đồng; chứng thư thẩm định 9.000.000 đồng; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng). Ông T, bà Q phải chịu (đã nộp và chi phí xong).

Số tiền xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/7/2024 là 3.000.000 đồng, ông P phải chịu, ông P đã nộp và chi phí xong.

[7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông T và bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông T và bà Q là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nên miễn cho ông T và bà Q án phí.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M được Tòa án chấp nhận nên không phải chịu án phí;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M.

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 391/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 117, 126 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng T, bà Huỳnh Thị Q đối với bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với yêu cầu:

    Buộc bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M có trách nhiệm liên đới tháo dỡ hàng rào đã xây dựng, trả lại cho ông T và bà Q thửa đất số 494, tờ bản đồ số 16, đất HNK, đất tại ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An, vị trí và tứ cận đất theo Mảnh trích đo địa chính số 170-2024 theo Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 09/4/2024.

  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M đối với ông Nguyễn Hoàng T, bà Huỳnh Thị Q về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”
    1. Vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Tấn P với ông Nguyễn Hoàng T đối với thửa đất số 494, diện tích 1.282m², tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 19 tháng 12 năm 2008, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
    2. Ông Huỳnh Tấn P và bà Nguyễn Thị Tuyết M được quyền sử dụng đất và được quyền liên hệ Cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 494, diện tích 1.162,8 m², tờ bản đồ số 16, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An,

      Vị trí diện tích thực tế thửa đất số 494 là khu A có diện tích 1.162,8 m² theo Mảnh trích đo địa chính số 170-2024 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 28/3/2024 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 09/4/2024.

    3. Người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên GCNQSDĐ đã cấp).

      Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

      Cơ quan Đăng ký đất đai; cơ quan Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án để giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  3. Về chi phí thẩm định, định giá, đo đạc ở cấp sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Hoàng T và bà Huỳnh Thị Q phải chịu số tiền 51.000.000 đồng (đã nộp xong).

    Ông Huỳnh Tấn P phải chịu chi phí xem xét, thẩm định là 3.000.000 đồng (đã nộp xong).

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Miễn cho ông Nguyễn Hoàng T và bà Huỳnh Thị Q án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông T và bà Q số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000152 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

    Ông Huỳnh Tấn P và bà Nguyễn Thị Tuyết M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho ông Huỳnh Tấn P số tiền 1.200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (300.000 đồng theo biên lai thu số 0007509 ngày 12/12/2022, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005529 ngày 30/8/2024, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005560 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005561) cùng ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

    Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005532 ngày 30/8/2024 và biên lai thu số 0005559 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Võ Thị T1, ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    Hoàn trả cho ông Huỳnh Tấn P, bà Nguyễn Thị Tuyết M mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005808, 0005806 cùng ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 218/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger