|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 218/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Phạm Văn Bang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Trần Thị Mai |
| Ông Lê Quang Bảo. |
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Giang - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 211/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 27 tháng 01 năm 1972, tại: Tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: 49 đường V, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số F đường T, phường N (phường T cũ), thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quý G (đã chết) và bà Bùi Thị H1; có chồng là Đoàn Anh D (đã chết) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con bé nhất sinh năm 2000; tiền án: Bản án số 239/HS-ST ngày 10/9/2021 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Chấp hành xong án phạt tù ngày 11/4/2023 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/01/2022 tại Biên lai thu số 0000331 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/9/2004 bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024, chuyển tạm giam ngày 20/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 ngày 11/6/2024, tổ công tác Công an phường C, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đường nối Quốc lộ B với đại lộ Thiên Trường, thuộc tổ dân phố số A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Nguyễn Thị Thu H điều khiển xe máy biển kiểm soát 18H2-5231 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, H tự giác giao 01 túi ni lông màu trắng, bên trong là lớp giấy bạc màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là H2 mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Thu H và tạm giữ của H 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18H2-5231 nhãn hiệu Honda Symen, màu đen, đã cũ.
Ngày 11/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định trưng cầu giám định số 1635/QĐ-ĐTTH đối với chất bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng, bên ngoài bọc bằng ni lôn màu trắng thu giữ được của Nguyễn Thị Thu H. Bản kết luận giám định số 1103/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (Heroin); Khối lượng mẫu: 0,136 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thu H khai nhận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 11/6/2024, H điều khiển xe máy biển kiểm soát 18H2- 5231 từ nhà đến một ngõ nhỏ (không nhớ số ngõ) ở khu vực đường đê ven sông Đào, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định gặp người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói ma túy với giá 50.000 đồng. H cầm gói ma túy rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Công an phường C, thành phố N phối hợp với Công an xã N (nay là phường N), thành phố N xác minh người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Thị Thu H ở khu vực gầm cầu Đ, xã N (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định nhưng không xác định được đối tượng nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra xử lý sau.
Bản cáo trạng số 217/CT-VKSND-TPNĐ ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thu H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18H2-5231 là tài sản của Nguyễn Thị Thu H không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/6/2024; Biên bản làm việc thu dữ liệu bản ảnh vật chứng bắt quả tang ngày 11/6/2024; Kết luận giám định số 1103/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 11/6/2024, tại khu vực đường nối Quốc lộ B với đại lộ Thiên Trường thuộc tổ dân phố số A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,136 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,136 gam ma tuý loại Heroin. Vì vậy bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; bị cáo có nhân thân xấu và hiện đang có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo thực hiện, mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Thu H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18H2-5231 là tài sản của Nguyễn Thị Thu H không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[8] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024.
2. Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại chiếc xe máy biển kiểm soát 18H2-5231 cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1103/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024)
3. Án phí:
- - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Thị Thu H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Bang |
6
Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 218/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H - Tàng trữ trái phép chất ma tuý Xử phạt: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024. Không áp dụng HPBS
