Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2024/HS-ST

Ngày: 13/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Anh Đức;
Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đầu Khắc Dinh;
Ông Nguyễn Danh Lơi;
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 197/2024/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Duy B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1958 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: Phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú trước khi bị tạm giam: Thôn E, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Hưu trí; Con ông: Vũ Duy N, đã chết; Con bà: Hà Thị L, đã chết; Vợ: Lê Thị B1, sinh năm 1958; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 09/7/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Ninh Quang H - Công ty L4, Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Địa chỉ: Số F đường B, phường T, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị hại:

  • - Ông Lê Trọng H1, sinh năm 1975; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bà Lê Thị L1, sinh năm 1971; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Ông Trần Đức K, sinh năm 1955; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: SN A T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Ông Lê Nguyên T, sinh năm 1959; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Lô C đường T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

  • - Chị Vũ Thị L2, sinh năm 1984; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Tòa C, chung cư T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bà Lê Thị B1, sinh năm 1959; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Ông Lê Bá P, sinh năm 1955; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vũ Duy B là Cán bộ Công an đã nghỉ hưu (không có thẩm quyền tuyển dụng, tuyển sinh), nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách giới thiệu bản thân có thể xin vào ngành, điều động, chuyển biên chế trong ngành Công an. Các bị hại đã tin lời của Vũ Duy B, nên đã đưa tiền cho bị cáo để bị cáo xin cho người thân của mình vào ngành cho con đang đi nghĩa vụ Công an nhân dân hoặc có ý định thi vào các trường Công an. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Đầu tháng 5/2017, anh Lê Trọng H1, sinh năm 1975, ở Q, xã H, huyện H (nay là phố Q, phường L, TP .) có con trai là Lê Trọng H2 đi nghĩa vụ Công an nhân dân, đến năm 2018 hết nghĩa vụ có nguyện vọng muốn thi đỗ vào trường C, nên anh H1 nói với ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1959, trú tại thôn B, xã H, huyện T - nay là thị xã N. Ông T1 giới thiệu anh H1 gặp Nguyễn Văn H3, sinh năm 1969, trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa. Ngày 01/5/2017, anh H3 dẫn anh H1 cùng với anh T1 đến số nhà A N, phường L, thành phố T để gặp Vũ Duy B. Vũ Duy B giới thiệu bản thân là Thượng tá Công an về hưu, hiện có 04 người con đang công tác trong ngành công an. Anh Hải giới T2 với ông B, anh H1 có con trai đang đi nghĩa vụ muốn xin vào học trong trường C. Ông B nói sẽ lo được và muốn xin vào trường Công an thì sẽ mất 550.000.000 đồng. Anh H1 đồng ý. Do anh H1 có chị gái là Lê Thị L1, sinh năm 1971, ở xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cũng có con trai là Nguyễn Duy D, sinh năm 1994, đang đi nghĩa vụ Công an muốn thi vào trường Công an nên anh H1 hỏi ông B và được ông B đồng ý nhận cho cả hai trường hợp, mỗi trường hợp để được vào Công an chính thức sẽ mất 550.000.000 đồng.

Ngày 07/5/2017, ông B đến nhà anh H1 nhận số tiền 600.000.000 đồng (của anh Lê Trọng H1 số tiền 300.000.000 đồng và của chị Lê Thị L1 số tiền 300.000.000 đồng). Khi nhận tiền ông B có viết giấy nhận tiền. Ông B dặn khi nào con của anh H1 và con của chị L1 nhận được giấy báo dự thi thì phải nộp hết số tiền còn lại. Đến ngày 29/5/2017, khi con trai anh H1 và con chị L1 nhận được giấy báo thi vào trường C thì anh H1 và chị L1 đến nhà ông B để giao đủ số tiền theo yêu cầu của ông B. Anh H1 có gọi anh T1 và anh H3 đến nhà ông B để chứng kiến. Anh H1 và chị L1 giao cho ông B số tiền 500.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, ông B đã thu lại giấy nhận số tiền 300.000.000 đồng đã viết biên nhận ngày 07/5/2017 đồng thời ông B viết giấy cam kết xin vào học các trường C - Bộ C1 đề ngày 29/5/2017, giấy thể hiện ông B nhận đủ của anh H1 và chị L1 mỗi người số tiền 550.000.000 đồng và cam kết xin được cho con anh H1 và con chị L1 vào học các trường Công an Nhân dân năm 2017.

Sau khi nhận tiền, ông B không liên hệ với ai để xin việc. Hết tháng 10/2017, con của anh H1 và con của chị L1 vẫn chưa được đi học, anh H1 có gọi điện hỏi ông B thì ông B trả lời, ông B không xin được và cũng chưa có tiền để trả lại. Sau đó, anh H1 và chị L1 đã nhiều lần tìm để đòi lại số tiền nhưng ông B không trả. Số tiền ông B chiếm đoạt của anh Lê Trọng H1 là 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) và bà Lê Thị L1 là 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).

Vụ thứ hai:Năm 2014, ông Trần Đức K, sinh năm 1955, ở thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa có con trai là Trần Đức A, tốt nghiệp khoa Kế toán, Đại học Lao động và Xã hội, có nguyện vọng muốn xin vào ngành Công an nên ông K có liên hệ với ông B để xin vào ngành Công an. Ông B nói ông K sẽ xin cho con trai ông K vào ngành Công an nhưng phải đưa số tiền là 550.000.000 đồng.

Ngày 30/6/2014, ông K có giao cho ông B số tiền 200.000.000 đồng để đặt cọc ông B xin việc cho con trai ông K. Ông B có viết giấy biên nhận cho ông K. Ngày 15/6/2015, ông K mang 350.000.000 đồng đến nhà ông B để giao cho ông B, ông B hứa trong quý 3 năm 2015 sẽ xin cho Trần Đức A vào công tác trong Tổng cục I - Bộ C1.

Sau khi nhận tiền của Trần Đức K, do biết ông Lê Bá P, sinh năm 1956, ở thôn C, xã Đ, huyện Đ, Thanh Hóa có có quen biết ông Phạm Hồng G, sinh năm 1952, ở SN09, ngách G N, phường L, Đ,thành phố Hà Nội, lúc này là Cán bộ Cục Đ nên ông B đến gặp ông P để nhờ ông P xin việc cho con trai ông Trần Đức K, đồng thời ông B đưa tiền cho ông P để nếu xin được thì cảm ơn lãnh đạo Bộ, nếu không được thì ông P trả lại cho ông B.Tổng số tiền ông P nhận của ông B là 350.000.000 đồng. Các lần nhận tiền ông P có viết giấy đưa cho ông B.

Sau đó ông B nói với ông K xin ở Tổng cục I - Bộ C1 không được nên sẽ xin về Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và ông B yêu cầu ông K nộp thêm số tiền 100.000.000 đồng. Tổng số tiền ông K đã đưa cho ông B là 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng).

Sau khi nhận tiền của ông B để xin việc cho Trần Đức A là con ông Trần Đức K, ông P có gặp ông Phạm Hồng G,để nhờ xin việc cho Trần Đức A. Ông Phạm Hồng G, là cán bộ Cục Đ đã nói chuyện và đề nghị ông Nguyễn Tiến L3, sinh năm 1944, ở phòng 504, CT2, Khu đô thị T, xã T, huyện Đ, TP . (nguyên Phó Cục trưởng Cục Đ1, Bộ C1) gặp ông Trần Bá T3, sinh năm 1955, ở G, Khu đô thị C, phường P, quận T, TP . khi đó là Tổng cục trưởng T4 C để xin cho Trần Đức A vào ngành Công an. Do nể nang đồng chí, đồng đội cũ nên ông L3 đã viết giấy gửi ông T3, đề nghị ông T3 giúp, ông T3 bút phê vào tờ giấy của ông L3 và gửi về cho ông L3. Sau khi nhận giấy từ ông T3 gửi về, ông L3 đã đưa giấy có bút phê của ông Trần Bá T3 cho ông Lê Bá P, sau đó ông P đưa giấy này cho ông Vũ Duy B.

Đến ngày 16/3/2016, ông B gọi ông K đến nhà ông B để trả lại cho ông K số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và đề nghị ông K nộp hồ sơ sang Sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, còn việc xin ở ngoài Hà Nội ông B sẽ lo. Sau đó, ông B đưa ông K đến Sở Cảnh sát phòng cháy chữa cháy để nộp hồ sơ xin tuyển dụng. Ông K mang hồ sơ đến nộp và để 200.000.000 đồng vào trong hồ sơ đưa cho anh H2 phòng Tổ chức cán bộ; ngày hôm sau anh H2 gọi ông K đến trả lại số tiền 200.000.000 đồng mà ông K đã bỏ vào trong phong bì chỉ nhận hồ sơ tuyển dụng.

Do không xin được việc cho Trần Đức A nên ngày 15/02/2018, ông P đã trả lại cho ông B toàn bộ số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) đã nhận của ông B. Tuy nhiên, ông B vẫn không trả lại tiền cho ông K. Số tiền ông B chiếm đoạt của ông Trần Đức K là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Vụ thứ ba:Thông qua quan hệ quen biết, ông Lê Nguyên T, sinh năm 1959, ở Lô C T, phường N, TP ., Thanh Hóa có nhờ ông B xin cho con trai ông T là Lê Tuấn A1 vào ngành công an. Ông B nói với ông T sẽ xin cho con trai ông T vào ngành Công an là 700.000.000 đồng, và phải đưa trước cho ông B 400.000.000 đồng, khi nào cán bộ đến thẩm tra lý lịch thì sẽ nộp nốt 300.000.000 đồng còn lại.

Ngày 19/02/2017, tại nhà ông Lê Nguyên T, ông Vũ Duy B đã đến nhận số tiền 400.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, ông B viết cho ông T tờ giấy nhận tiền xác nhận có nhận số tiền 400.000.000 đồng của ông T để xin vào công an cho Lê Tuấn A1. Ông B có hẹn với ông T ba tháng sau sẽ lo được cho Lê Tuấn Al vào ngành, nếu không ông B sẽ trả lại tiền cho T. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền của ông T, ông B không liên hệ với ai để xin việc, và đã sử dụng tiền tiêu xài cá nhân hết nên không còn khả năng trả lại cho ông T. Số tiền ông B chiếm đoạt của ông Lê Nguyên T là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).

* Kết quả trưng cầu giám định; việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

Ngày 06/4/2018, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T có Quyết định số 412/PC45 trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Vũ Duy B đối với 02 giấy cam kết xin vào học các trường Công an Nhân dân đề ngày 29/5/2017.

Tại Bản kết luận giám định chữ viết, chữ ký số: 775/KLGĐ-PC54 ngày 25/4/2018 của phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận Chữ ký, chữ viết đứng tên Vũ Duy B ở tài liệu cần giám định so với chữ viết, chữ ký đứng tên Vũ Duy B ở tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra.

* Đồ vật, tài liệu bị thu giữ, tạm giữ

  • - 01 (Một) Giấy nhận tiền ghi ngày 16/3/2016 ký và ghi tên ông Trần Đức K;
  • - 01 (một) Giấy cam kết xin việc ghi ngày 19/2/2017 có chữ ký và ghi tên Vũ Duy B;
  • - 02 (Hai) Giấy cam kết xin vào học các trường C Bộ C1 ghi ngày 29/5/2017 có chữ ký và ghi tên Vũ Duy B;
  • - 01 (Một) giấy nhận tiền ghi ngày 15/6/2015 ký và ghi tên Vũ Duy B;
  • - 01 (một) Giấy biên nhận ghi ngày 30/6/2014 có chữ ký và ghi tên Vũ Duy B;
  • - 01 (một) giấy nhận tiền ghi ngày 30/12/2015 có chữ ký và ghi tên Vũ Duy B
  • - 01 (một) Giấy khất nợ ghi ngày 23/12/2017 có chữ ký và ghi tên Vũ Duy B;
  • - 01 (một) Giấy thanh toán nợ ghi ngày 15/02/2018 có chữ ký và ghi tên Vũ Duy B nhận tiền từ ông Lê Bá P.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Vũ Duy B đã tác động đến gia đình bồi thường xong cho các bị hại, các bị hại không còn yêu cầu gì thêm về phần bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

* Những tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với ông Lê Bá P, sau khi nhận 350.000.000 đồng từ ông Vũ Duy B để xin việc cho Lê Tuấn A1 đã đến gặp ông Phạm Hồng G để đề đạt việc xin việc cho Lê Tuấn A1. Tuy nhiên sau khi không xin được việc cho Lê Tuấn A1, ông P đã gọi ông B đến trả lại toàn bộ số tiền cho ông B.

Đối với ông Phạm Hồng G là người đã giới thiệu ông Lê Bá P với ông Nguyễn Tiến L3 đã chết năm 2016 nên không thể làm việc được.

Đối với ông Nguyễn Tiến L3, nguyên Cục trưởng Cục Đ, Bộ C1 và ông Trần Bá T3, nguyên Tổng cục trưởng T4 Công an nhân dân không có tài liệu nào thể hiện việc được hưởng lợi trong việc xin việc cho Trần Đức A nên không đủ căn cứ chứng minh.

Lê Bá P; Phạm Hồng G; Nguyễn Tiến L3 và Trần Bá T3 không được hưởng lợi gì từ Vũ Duy B, cũng không được Bang hứa hẹn gì nên không có căn cứ chứng minh vai trò đồng phạm của các ông P; ông G; ông L3 và ông T3.

Tại Cáo trạng số 107/CT-VKS-P2 ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá, đã Quyết định:

Truy tố Vũ Duy B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Duy B mức án từ 07 năm đến 08 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (06/7/2024).

Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của người bào chữa của bị cáo:

Thống nhất tội danh bản Cáo trạng đã truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn hối cải và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, tác động gia đình tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong cho những người bị hại, những người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người già, bị bệnh nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xét xử bị cáo mức án thấp nhất mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, để bị cáo cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Lời nói sau cùng của bị cáo, bị cáo nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Viện kiểmnhân dân tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, người bào chữa không khiếu nại, thắc mắc gì về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng. Do đó, mọi quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ, có đơn xin xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của các bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tốtụng hình sự, xét xử vắng mặt các bị hại.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, các tài liệu ghi chép đã thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Mặc dù Vũ Duy B là cán bộ đã từng công tác trong ngành Công an, nhưng bản thân không được phân công, không có chức năng nhiệm vụ trong tuyển dụng, điều chuyển công tác; tuyển sinh nhưng vẫn đưa ra thông tin gian dối về khả năng xin tuyển biên chế, tuyển dụng, tuyển sinh vào ngành Công an, vào trường C để các bị hại tin tưởng giao tiền cho Vũ Duy B. Sau khi có tiền từ các bị hại, Vũ Duy B không thực hiện như đã cam kết mà sử dụng vào tiêu xài cá nhân, với tổng số tiền chiếm đoạt của các bị hại là 2.150.000.000đ (Hai tỷ một trăm năm mươi triệu đồng). Hành vi của Vũ Duy B có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, nay là khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội nêu trên của Vũ Duy B là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác, mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần thiết phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Duy B phạm tội 02 lần trở lên, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi biết mình bị truy nã, bị cáo Vũ Duy B đã đến Công an tỉnh T xin đầu thú. Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho các bị hại, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quá trình công tác, bị cáo được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, được Giám đốc Công an tỉnh T tặng giấy khen; Con gái và con rể của bị cáo đều được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang; vợ của bị cáo được tặng kỷ niệm chương Vì sự nghiệp giáo dục; UBND xã H, huyện T có Thư cảm ơn đối với bị cáo vì đóng góp cho UBND xã.

Với những tình tiết nêu trên, bị cáo được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét thấy, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về bồi thường dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho các bị hại, các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Số tiền chiếm đoạt của các bị hại, bị cáo và gia đình đã khắc phục toàn bộ cho các bị hại, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Duy B, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    • - Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • - Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy B 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận giữa bị cáo và các bị hại đã giải quyết xong.
  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 và Danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết:

    Buộc bị cáo Vũ Duy B phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TANDND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 218/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 218/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger