|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 210/2024/HS-ST Ngày: 25/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiệu
Thẩm phán: Bà Trương Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Quyền
Ông Bùi Thế Huệ
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Hữu Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với:
Bị cáo Dương Văn M, sinh ngày 16/12/1983; tại thành phố T; Nơi cư trú: Phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Danh bản, chỉ bản số 679 ngày 17/12/2023 do Phòng PC11 Công an tỉnh T lập; CCCD số [...] ngày 13/02/2022, nơi cấp: Cục C2 về TTXH - Bộ C3; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T và bà Lê Thị M1; có vợ là Trịnh Thị Kim A (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn M: Luật sư Phạm Văn M2 (có mặt) và Luật sư Lê Thị T1 (vắng mặt) - Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T;
Địa chỉ: Số G T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị hại:
1. Ông Nguyễn Đức M3, sinh năm 1988; vắng mặt.
Địa chỉ: Lô A MBQH G, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1968; vắng mặt.
Địa chỉ: Lô P V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Vũ Thái S, sinh năm 1984; vắng mặt.
Địa chỉ: P1502 H Chung cư P, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm 1987; vắng mặt.
Địa chỉ: T, Khu đô thị V, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
- Anh Anh Vũ Văn N, sinh năm 1984; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
* Người làm chứng: Anh Vũ Anh D, sinh năm 1990; vắng mặt.
Địa chỉ: Số F Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2021, Dương Văn M thành lập Công ty cổ phần B, địa chỉ: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Công ty B), hoạt động trong lĩnh vực môi giới bất động sản. Do chưa có giấy tờ tùy thân, nên M giao cho Vũ Anh D, sinh năm 1990, địa chỉ F Đ, phường Đ, thành phố T làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc là người đại diện trước pháp luật; Vũ Thái S, sinh năm 1984, địa chỉ phòng P1502 H1 chung cư P, phường P, thành phố T là nhân viên bán hàng; Bùi Thị Thu N1, sinh năm 1990, địa chỉ số I N, phường T, thành phố T; Hoàng Thị X, sinh năm 1990, địa chỉ phòng I Tòa A chung cư T, phường Q, thành phố T là nhân viên văn phòng, soạn thảo hợp đồng. Thực tế mọi hoạt động của Công ty đều do M trực tiếp quản lý, điều hành.
Ngày 28/12/2021, ông Vũ Anh D - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty B ký hợp đồng với Công ty cổ phần T4, do ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1987 là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc có trụ sở tại lô CX01, khu đô thị V, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội (Công ty T4) về việc Công ty B được thực hiện cung cấp dịch vụ, tìm kiếm khách hàng và là đại lý bán các sản phẩm Dự án Nghi Sơn L, tại địa chỉ: xã H, huyện T (nay là phường H, thị xã N) (BL: 464 - 477).
Sau khi ký hợp đồng với Công ty T4 về việc tìm kiếm khách hàng và làm đại lý bán các sản phẩm Dự án Nghi Sơn L. Ngày 22/01/2022, Công ty B đã tổ chức lễ ra mắt Dự án N Luxury tại khách sạn V. Tại buổi lễ ra mắt, M giới thiệu là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty B và giao cho nhân viên của Công ty tìm kiếm khách hàng để bán đất Dự án này. Thông qua buổi lễ ra mắt, đã có nhiều khách hàng đặt cọc mua đất Dự án N Luxury với Công ty B, số tiền đặt cọc của các khách hàng Công ty B đã chuyển cho Công ty T4 2.500.000.000đ. Hết thời hạn ký kết nhưng Công ty B không thực hiện được các cam kết về việc đặt cọc nên ngày 15/3/2022 Công ty Cổ phần T4 đã thanh lý hợp đồng với Công ty B (bút lục 481, 482). Vụ việc này, hiện nay Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đang thụ lý giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật dân sự.
Do đang thực hiện hợp đồng đặt cọc mua đất tại Dự án Nghi Sơn L với Công ty B, nên tháng 3/2022 anh Nguyễn Đức M3, sinh năm 1988, ở Lô A MBQH G, phường Q, thành phố T đến Công ty B. Tại đây, M giới thiệu là Chủ tịch Hội đồng quản trị, hiện đang hợp tác với Công ty T4 để phân phối bán các sản phẩm tại Dự án Shiki Hải Lĩnh P, ở phường H, thị xã N (Dự án S), Dự án đang trong quá trình san lấp, hợp đồng pháp lý rõ ràng, nhanh chóng được ký với chủ đầu tư, nếu anh M3 đồng ý mua thì đặt cọc trước 500.000.000đ để giữ quyền mua lô đất biệt thự, M sẽ ưu tiên để giá rẻ hơn so với giá thị trường và cam kết đến tháng 8/2022 sẽ làm thủ tục để anh M3 trực tiếp ký kết hợp đồng chuyển nhượng với chủ đầu tư (Bút lục: 73, 148, 149, 152,154, 155, 159).
Nghe M nói vậy, ngày 29/3/2022, anh M3 đến Công ty B làm hợp đồng đặt cọc mua lô đất biệt thự BTS 04-04 Dự án Shiki Hải L với Dương Văn M; ngày 04/4/2022 M lập phiếu thu của anh M3 500.000.000₫, anh M3 chuyển tiền, M đã nhận đủ và cam kết sẽ thực hiện như hợp đồng đã ký (Bút lục: 75, 77, 177 - 180). Đến hẹn không thấy được ký hợp đồng với chủ đầu tư như M đã hứa, anh M3 hỏi, M đưa ra nhiều lý do, qua tìm hiểu anh M3 được biết Công ty B không được phân phối bán các sản phẩm tại Dự án Shiki Hải L như M nói và đến nay Dự án Shiki Hải L vẫn chưa được mở bán. Biết mình bị lừa, anh M3 đã làm đơn tố cáo hành vi của M đến Công an tỉnh T để giải quyết và yêu cầu M trả lại số tiền trên.
Đối với bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1968, trú tại: Lô P V, phường Đ, thành phố T, năm 2022 có hợp đồng đặt cọc với Vũ Anh D - Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng Giám đốc Công ty B mua 06 lô đất Dự án Nghi Sơn L. Thông qua việc mua đất Dự án Nghi Sơn L, bà H quen biết và được M giới thiệu Công ty hiện đang phân phối bán các sản phẩm tại Dự án S, giá 17.000.000đ/m² nếu bà H muốn mua thì sẽ được chọn các căn đẹp.
Sau khi tìm hiểu mặt bằng Dự án, bà H chọn 05 lô, gồm: BTC03-01 diện tích 291,03m²; BTC02-07 diện tích 262,87m² ; BTĐ03-01 diện tích 210m²; BTĐ 03-02, diện tích 205,54m² BTC BTĐ 03-01 diện tích 291,03m².
Ngày 29/01/2022 bà H vay anh Hà Nam T3 (là bạn), ở Cộng hòa Liên bang Đ số tiền 600.000.000đ và nhờ anh Trung chuyển K cho Vũ Thái S là nhân viên bán hàng của Công ty B, anh T3 đồng ý, sau đó sử dụng tài khoản của mình chuyển tiền vào tài khoản của anh S. Cụ thể: Ngày 29/01/2022, anh Trung chuyển 02 lần tiền, mỗi lần 250.000.000đ vào tài khoản anh S, nội dung "H1 ck DAT COC BIET THU SAT BIEN”; ngày 31/01/2022 anh Trung chuyến 100.000.000đ vào tài khoản anh S, nội dung “H1 ck DAT COC CAN 82 Luxury Grand N”. Nhận tiền từ anh T3, ngày 29/01/2022, anh S chuyển luôn vào tài khoản cho M số tiền 499.999.888đ, nội dung “a Trung coc B1”; ngày 09/02/2022, anh S chuyển vào tài khoản cho M số tiền 100.000.000đ, nội dung “a T3 coc cung lo 82 Luxury" (Bút lục: 645, 646) và được thể hiện bằng hợp đồng đặt cọc không đề số, ngày, tháng, năm 2022 do M ký và giao cho bà H quản lý (BL: 222-223). Tiếp đó, từ ngày 31/3/2022 đến ngày 05/4/2022 bà H chuyển khoản cho M 06 lần với tổng số tiền 1.999.999.999đ để đặt cọc mua 04 lô đất. Nhận tiền chuyển khoản từ bà H, ngày 06/4/2022 Dương Văn M - chức vụ: Chủ tịch HĐQT đã lập hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị Thu H đặt chỗ 04 căn biệt thự tại Dự án S, thuộc phường H, thị xã N, gồm Lô BTC03-01, diện tích 291,03m²; lô BTC02-07, diện tích 262,87m²; lô BTC BTĐ 03-01, diện tích 210m²; BTC BTĐ 03-02, diện tích 205,54m² do M ký và giao cho bà H quản lý (BL: 224-225). Từ khi ký hợp đồng đặt cọc với M đến nay, bà H vẫn chưa được ký hợp đồng với chủ đầu tư nên đã làm đơn tố cáo Hành vi của M đến Công an tỉnh T để giải quyết, yêu cầu M phải trả lại số tiền trên.
Ngày 17/7/2023 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các tài liệu anh M3 cung cấp. Tại bản giám định số 2844/KL-KTHSN, ngày 03/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
- Chữ ký, chữ viết đề tên Dương Văn M ở Hợp đồng đặt cọc số 29.3/2022/HĐĐC đề ngày 29/3/2022; Phiếu thu, đề ngày 04/4/2022 và Giấy cam kết, đề 18/10/2022 là của anh Dương Văn M (Bút lục: 186);
- Hình dấu giáp lai màu đỏ và hình dấu màu đỏ ở “ĐẠI DIỆN BÊN A” trong Hợp đồng đặt cọc số 29.3/2022/HĐĐC ngày 29/3/2022; Phiếu thu đề ngày 04/4/2022 là hình dấu của Công ty cổ phần B.
Ngày 20/7/2024 và ngày 23/8/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định và giám định bổ sung đối với các tài liệu mà bà H cung cấp. Tại bản giám định số 3059, 3207 /KL-KTHS, ngày 21/8/2024 và ngày 04/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, Kết luận:
- Chữ ký, chữ viết đề tên Dương Văn M trong Hợp đồng đặt cọc số 06.4/2022/HĐĐC ngày 06/4/2022 số tiền 2.000.000.000đ là chữ viết, chữ ký của Dương Văn M;
- Chữ ký đề tên Dương Văn M ở trong Hợp đồng đặt cọc không đề số, ngày, tháng, năm 2022 số tiền 600.000.000đ là chữ ký của Dương Văn M (Bút lục: 211, 218);
- Hình dấu giáp lai màu đỏ và hình dấu màu đỏ ở “ĐẠI DIỆN BÊN A” trong Hợp đồng đặt cọc số 06.4/2022/HĐĐC ngày 06/4/2022 số tiền 2.000.000.000₫ và Hợp đồng đặt cọc không đề số, ngày, tháng, năm 2022 số tiền 600.000.000đ là hình dấu của Công ty cổ phần B.
Đối với 01 (một) Đĩa NEO CD-R 700Mb/80min/52x, màu cam, chứa 01 file âm thanh có tên “Bản ghi âm Mới 5 2.m4a" do M giao nộp. Ngày 18/10/2023 Cơ quan điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định âm thanh. Tại bản giám định số 7921/KL-KTHS, ngày 08/11/2023 của V1 Bộ C3 ban hành. Kết luận (Bút lục số 197):
- Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong file âm thanh nêu trên. Thời gian khởi tạo của file âm thanh là ngày 24/10/2022;
- Có giọng nói của Dương Văn M; Vũ Văn N; Nguyễn Đức M3 trong file âm thanh. Bản dịch nội dung file âm thanh gồm 12 trang (BL:198-203).
Tại Cơ quan điều tra, M khai số tiền nhân của anh M3 500.000.000đ, đặt cọc mua lô đất BTS 04 - 04 Dự án Shiki Hải L, M đã chuyển cho Công ty T4, (bằng hình thức chuyển khoản và đưa tiền mặt cho anh T3, anh N, anh C). Số tiền 2.000.000.000₫ bà H chuyển là tiền góp vốn để chung nhau mua 10 lô đất Dự án Shiki Hải L, không phải tiền đặt cọc, việc hai bên ký hợp đồng đặt cọc mua đất chỉ là giả cách. Đối với số tiền 600.000.000đ, M nhận từ Vũ Thái S là tiền của anh Hà Nam T3 đặt cọc mua đất với M, không phải bà H đặt cọc. Trong đó, 500.000.000₫ anh T3 đặt mua 01 lô đất nhưng M không nhớ rõ thông tin, địa chỉ; số tiền 100.000.000₫ anh T3 đặt cọc lô SH82 tại Dự án N trùng với lô bà H nên M vẫn đang quản lý số tiền này, chưa trả lại cho anh T3.
Ông Nguyễn Thành T2 - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần T4, ông Vũ Văn N, ông Lê Văn C là nhân viên Công ty T4, khai báo: Công ty B đã chuyển cho Công ty T4 2.500.000.000đ để đặt cọc Dự án Luxury. Ngoài ra, Công ty T4 không nhận bất kỳ khoản tiền nào khác để thỏa thuận mua bán đất tại Dự án Shiki Hải L với Công ty B và cá nhân M, anh M3. Công ty T4 không phải chủ đầu tư Dự án Shiki Hải L (BL: 491, 492, 494 - 516).
Ông Nguyễn Văn N2 - Giám đốc, người đại diện trước pháp luật của Công ty TNHH Đ là chủ đầu tư Dự án khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp S, thuộc phường H, thị xã N, khẳng định không nhận tiền đặt cọc, nhận tiền mua bán đất tại Dự án Shiki Hải L với Công ty B, Công ty T4 và cá nhân M, anh M3. Dự án Shiki Hải L chưa đủ điều kiện mở bán trên thị trường (BL: 409, 430).
Quá trình điều tra, Dương Văn M khai đã đưa cho Vũ Anh D số tiền 355.000.000đ (trong đó D bán xe ô tô của M 255.000.000đ và M vay Hoàng Thị S1 100.000.000₫) để trả lại cho anh Nguyễn Đức M3 tiền đặt cọc lô đất SH84 Dự án Nghi Sơn L và lô BTS 04-04 Dự án Shiki Hải L. Tuy nhiên, anh M3 và Vũ Anh D khẳng định số tiền 355.000.000₫ là trả tiền đặt cọc lô SH84 Dự án Nghi Sơn L không phải trả lô BTS 04-04 Dự án Shiki Hải L. Đến nay, M đã tự nguyện và tác động gia đình trả lại cho anh M3 được 150.000.000đ tiền đặt cọc lô BTS 04-04 Dự án Shiki Hải L(Bút lục: 163).
Về hành vi của những người liên quan:
- Đối với Vũ Anh D, Hoàng Thị X, Bùi Thị Thu N1 là những người được M thuê đảm nhiệm các chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiểm Tổng Giám đốc, kế toán, nhân viên văn phòng. Tuy nhiên, mọi hoạt động Công ty do M là người quản lý, chỉ đạo, điều hành, việc ký hợp đồng đặt cọc và nhận tiền mua đất của anh M3 và bà H tại Dự án Shiki Hải L, M là người ký, nhận tiền, anh D, chị X, chị N1 không được M trao đổi bàn bạc gì và không được hưởng lợi từ số tiền này nên Cơ quan điều tra không xử lý Vũ Anh D, Hoàng Thị X, Bùi Thị Thu N1 là phù hợp.
- Đối với anh Vũ Thái S là nhân viên kinh doanh của Công ty, được M giao tìm kiếm khách hàng. Quá trình giao dịch mua bán đất, anh S đã trực tiếp nhận 500.000.000₫ của anh Hà Nam T3 cho bà H vay đặt cọc mua lô đất BTC 03-03 Dự án Shiki Hải L. Tuy nhiên, toàn bộ số tiền này anh S chuyển hết cho M. Quá trình điều tra đã làm rõ, việc M đưa ra thông tin gian dối về Dự án Shiki Hải L để chiếm đoạt tiền của bà H, anh S không được M bàn bạc, trao đổi và hướng lợi gì, anh S chỉ thực hiện theo M chỉ đạo. Do đó hành vi của Vũ Thái S không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
- Đối với chị Hoàng Thị S1 là người cho M mượn tài khoản ngân hàng để nhận tiền đặt cọc đất của các bị hại. Tuy nhiên, khi cho mượn tài khoản chị S1 không biết M sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Toàn bộ số tiền các bị hại chuyển đến M là người quản lý, là người trực tiếp rút tiền nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Thị S1.
- Đối với anh Nguyễn Thành T2, anh Vũ Văn N và anh Lê Văn C theo M khai đã đưa tiền để đặt cọc các lô đất tại Dự án Shiki Hải L. Tuy nhiên, quá trình điều tra không có tài liệu, chứng cứ thể hiện việc những người này trao đổi, thỏa thuận nhận tiền đặt cọc với M và những người khác để mua bán đất tại Dự án Shiki Hải L. Do đó không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thành T2, Vũ Văn N và Lê Văn C.
Ngoài đơn cố táo của bà Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Đức M3. Quá trình điều tra, xác định Dương Văn M còn hợp đồng đặt cọc với 04 công dân mua đất tại Dự án Shiki Hải L, gồm: Anh Lê Phú L1, sinh năm 1991, ở số A T, phường Đ, TP .; anh Phạm Anh D1, sinh năm 1989, ở số B T, phường L, TP .; chị Lương Thị C1, sinh năm 1984, ở Khu phố B, thị trấn Y, huyện N và bà Nguyễn Thị Tuyết N3, sinh năm 1977, ở số F H, phường Đ, TP .. Cơ quan điều tra đã làm việc, giải thích quyền, nghĩa vụ liên quan nhưng các công dân từ chối cung cấp tài liệu, từ chối khai báo và không đề nghị gì liên quan đến việc chuyển tiền đặt cọc nêu trên, nên không có căn cứ để xử lý Dương Văn M về hành vi nhận tiền của những cá nhân này.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị can Dương Văn M phải có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H 2.499.999.887₫ và tiếp tục trả lại số tiền còn lại 350.000.000₫ cho anh Nguyễn Đức M3.
* Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS-P3 ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa để xét xử bị can Dương Văn M về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Thị M4 về tội danh như Cáo trạng số 43/CT-VKS-P3 ngày 21/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Dương Văn M từ 12 năm 06 tháng đến 13 năm 06 tháng tù. Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo M phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại: Anh Nguyễn Đức M3 350.000.000đ, chị Nguyễn Thị Thu H 2.499.999.887₫.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân phạm tội, bối cảnh trong xã hội đối với việc thực hiện dự án để đánh giá áp dụng cho bị cáo mức án thấp nhất cho bị cáo có cơ hội sớm trở về gia đình, xã hội.
* Ý kiến của bị cáo M: Tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình, thống nhất toàn bộ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và những người liên quan khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên bị hại có đơn xin vắng mặt; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo Dương Văn M.
Trong giai đoạn điều tra bị cáo Dương Văn M chưa thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình nên khai nhận hành vi vi phạm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với các kết luận giám định, tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra, đủ cơ sở kết luận:
Dương Văn M không phải là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần B, không được Công ty cổ phần T4 cho phân phối bán các sản phẩm tại Dự án Shiki Hải Lĩnh P, ở phường H, thị xã N; nhưng vì động cơ vụ lợi, M đã đưa ra thông tin gian dối, là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần B đang được phân phối các lô đất tại Dự án Shiki Hải L cho Công ty T4 là chủ đầu tư, có đầy đủ hợp đồng pháp lý, đất đẹp, giá rẻ. Do tin tưởng, từ ngày 29/01/2022 đến ngày 05/4/2022, bà Nguyễn Thị Thu H đã chuyển cho Dương Văn M 2.499.999.887₫ đặt cọc mua 05 lô đất tại Dự án S, phường H, thị xã N và ngày 05/4/2022 anh Nguyễn Đức M3 chuyển cho M 500.000.000₫ đặt cọc mua 01 lô đất tại Dự án S, phường H, thị xã N. Tổng số tiền M đã nhận của bà H và anh M3 là 2.999.999.887 đồng. Nhận tiền của bà H và anh M3, M không liên hệ, đặt vấn đề với ai để mua đất mà chiếm đoạt sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đưa ra thông tin gian dối để các bị hại tin, mục đích chiếm đoạt tài sản; hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Dương Văn M đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, số tiền bị cáo chiếm đoạt là 2.999.999.887 đồng; hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình xã hội; mất ổn định thị trường bất động sản trên địa bàn; bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác.
[2.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Bị cáo đã thực hiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại, vì vậy phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại; đã tự nguyện khắc phục 01 phần thiệt hại cho bị hại anh Nguyễn Đức M3 số tiền 150.000.000đ. Bị cáo có bố là ông Dương Văn T được Bộ trưởng Bộ Q tặng Bằng khen và được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng và được Ban Chấp hành trung ương tặng Huy hiệu 40 năm tuổi đảng. Vì vậy, bị cáo M được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[2.4] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ điều kiện để bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội, tuân thủ pháp luật. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Bị cáo không có thu nhập, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[3] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo M phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Đức M3 350.000.000đ; bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 2.499.999.887₫.
[4] Về án phí: Buộc bị cáo Dương Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
-
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn M 12 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày tạm giam 14/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị M4.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Dương Văn M phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Đức M3 số tiền 350.000.000đ; bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 2.499.999.887₫.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chưa thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất được xác định theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 6; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 88.999.997 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Lê Thị Hiệu |
Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 210/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L gây thương tích cho Cao Văn Q
