Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2174/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-5-2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bé

2. Ông Bùi Quang Chính

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 2610/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2814/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lý Thị Ngọc H, sinh năm 1995 ( có mặt)

Địa chỉ: 2 đường C, tổ H, K, phường L, thành phố T.

Bị đơn: Ông Kiều Duy C, sinh năm 1992 ( vắng mặt)

Địa chỉ: B đường A, tổ A, Kp V, phường L, thành phố T.

NHẬN THẤY:

Trong đơn xin ly hôn ngày 29/9/2023 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Lý Thị Ngọc H trình bày:

Bà H và ông Kiều Duy C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I nay là thành phố T ngày 11/6/2019. Cuộc sống chung hạnh phúc bình thường đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do ông C gây nợ nần dẫn đến đôi bên thường xảy ra cãi vã. Ông C đánh đập bà nên từ tháng 4/2023 bà về nhà mẹ ruột ở và hai bên đã ly thân từ đó đến nay. Bà H xác định đôi bên không còn sự quan tâm, không còn tình cảm, không thể hòa giải đoàn tụ nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Có hai người con chung tên Kiều Huyền M, sinh ngày 26/9/2019 và Kiều Huyền N, sinh ngày 06/9/2021. Ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Huyền N; giao người con chung Huyền M cho ông C nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi bé Huyền M và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi bé Huyền N.

Về tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Kiều Duy C trình bày: Ông xác định quá trình tiến tới hôn nhân đúng như bà H trình bày. Cuộc sống chung hạnh phúc bình thường đến ngày 18/4/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bà H đi ăn nhậu về khuya và hai bên có xảy ra lời qua tiếng lại dẫn đến ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông bắt gặp bà H ngoại tình dẫn đến cãi vã, gây gổ đánh nhau. Thời gian ly thân đôi bên có điện thoại qua lại chủ yếu về vần đề con cái mà không có việc hòa giải đoàn tụ. Ông xác định còn thương yêu bà H, không muốn ly hôn vì luật đạo và vì các con, mong bà H suy nghĩ lại vì hai con.

Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng có hai người con chung như bà H trình bày. Trường hợp phải ly hôn, ông đồng ý nuôi bé Huyền M, giao bé Huyền N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Đôi bên không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa:

Lý Thị Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu và ý kiến đã trình bày.

Ông Kiều Duy C vắng mặt.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Ngọc H:
  • + Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Ngọc H được ly hôn ông Kiều Duy C;
  • + Về con chung: Bà Lý Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng người con Kiều Huyền N, sinh ngày 06/9/2021. Ông Kiều Duy C trực tiếp nuôi dưỡng người con Kiều Huyền M, sinh ngày 26/9/2019. Đôi bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: không có.
  • + Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lý Thị Ngọc H và ông Kiều Duy C đã được Ủy ban nhân dân phường L, Quận I nay là thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2019 ngày 11/6/2019. Bà H yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông Kiều Duy C cư trú tại phường L, thành phố T. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Bị đơn là ông Kiều Duy C dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Theo lời khai của bà H và ông C thì hai bên tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2019. Từ năm 2020 đến nay đôi bên phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 4/2023 đến nay, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...

Ông C không đồng ý ly hôn nhưng trong thời gian qua ông C không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn, hòa giải với bà H mà để tình trạng ly thân kéo dài, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau.

Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, không còn tình cảm, ly thân kéo dài, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà H yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông C là có cơ sở giải quyết.

[3.2] Về con chung: Xét đôi bên thỏa thuận bà Lý Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng người con Kiều Huyền N, sinh ngày 06/9/2021; Ông Kiều Duy C trực tiếp nuôi dưỡng người con Kiều Huyền M, sinh ngày 26/9/2019 là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đôi bên thỏa thuận không cấp dưỡng nuôi con cho nhau là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Về tài sản chung: Bà H và ông C đều xác định không có tài sản chung.

[3.4 Về nợ chung: Bà H và ông C đều xác định không có nợ chung.

[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Lý Thị Ngọc H phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006030 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Ngọc H được ly hôn ông Kiều Duy C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2019 ngày 11/6/2019 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I nay là thành phố T cấp cho bà Lý Thị Ngọc H và ông Kiều Duy C không còn giá trị pháp lý.

  • - Về con chung: Giao người con chung Kiều Huyền N, sinh ngày 06/9/2021 cho bà Lý Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao người con chung Kiều Huyền M, sinh ngày 26/9/2019 cho ông Kiều Duy C trực tiếp nuôi dưỡng

Đôi bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

  • - Về tài sản chung: Không có.
  • - Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: 300.000 đồng bà Lý Thị Ngọc H phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006030 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - UBND phường Long Bình,
  • thành phố Thủ Đức;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2174/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2174/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu ly hôn ông C, yêu cầu nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger