TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 217/2024/HS-ST | Ngày: 30 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Hoàng Thuận – Giáo viên Trường THPT Trần Văn Ơn, thành phố Thuận An.
Bà Lê Thị Ngọc Giàu – Bí thư Đoàn phường Bình Hoà, thành phố Thuận An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sao Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Phước V, sinh ngày 21/01/2003 tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: Khóm C, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không, Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Lê Thị Ngọc G; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay. Có mặt.
Trần Thành T, sinh ngày 01/8/2005 tại tỉnh Bến Tre; Nơi thường trú: 475/AH ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nơi ở: 218/20 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1 và bà Lê Thị Mỹ L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay. Có mặt.
Lê Chí H, sinh ngày 04/04/2006 tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; Tạm trú: 54A/25 khu phố B, phường B thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Mỹ D; Tiền án, tiền sự: Không; Đầu thú ngày 12/4/2024 và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị bắt tạm giam từ ngày 13/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
Trần Vũ P, sinh ngày 06/8/2006 tại tỉnh Bến Tre; Nơi thường trú: 333/TK, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: Số D đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Vũ T2 và bà Nguyễn Thị Lệ H1; Tiền án; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2024 cho đến nay. Có mặt.
Trần Hoàng P1, sinh ngày 25/9/2005 tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H2 và bà Lê Thị Mỹ H3; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2024 cho đến nay. Có mặt.
Trần Chí B1 (tên gọi khác: T3), sinh ngày 09/5/2006 tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; Tạm trú: Số F, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh T4 và bà Nguyễn Thúy H4; Tiền án; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Vũ P: Bà Nguyễn Thị Lệ H1, sinh năm 1981 (là mẹ của bị cáo); Nơi thường trú: 333/TK ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: Công ty G1; đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Chí B1: Bà Nguyễn Thúy H4, sinh năm 1987 (là mẹ của bị cáo); Nơi thường trú: Ấp H, xã K, Huyện U, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: 4 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Vũ P: Bà Đinh Như Ý - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Chí B1: Bà Nguyễn Hoàng Y - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương. Có mặt
- Nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Ngô Chí P2, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau; Tạm trú: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Ông Đinh Văn H5, sinh ngày 12/6/2007; Nơi thường trú: Tổ A, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: Tổ A, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Ông Võ Minh A, sinh ngày 13/9/2007; Nơi thường trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện tại: Đường T, Tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Bà Phạm Huyền N1, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: Đường T, Tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Hữu L1, sinh năm: 1982; Nơi thường trú: 35/2 Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Ông Trương Hoài X, sinh năm: 1983; Nơi thường trú: Áp Cái Trâm A, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Tạm trú: Tổ D, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Ông Trần Văn H2, sinh năm: 1984. Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện tại: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Bùi Thị Thương T5, ông Nguyễn Văn P3, ông Nguyễn Trí T6. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/8/2023, Lê Chí H rủ Trần Thành T, Nguyễn Phước V, Trần Vũ P, Trần Hoàng P1, Trần Chí B1 đi đến quán T7, số A, khu phố B, phường B, thành phố T để đánh Ngô Chí P2 vì P2 chạy xe mô tô nẹt pô. Nghe vậy, Trần Vũ P điều khiển xe mô tô biển số: 83FE-0574 chở B1 đến khu phố B, phường B, thành phố T rủ đối tượng tên B2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cùng tham gia, sau đó Vũ P điều khiển xe mô tô chở B1, B2 đi lấy 03 con dao tự chế bằng kim loại và 01 cây kiếm bằng kim loại do Vũ P cất giấu gần Công ty G1 thuộc khu phố B, phường B, thành phố T nơi Trần Vũ P làm việc bỏ vào 01 bao tải màu vàng rồi quay trở lại phòng trọ của Chí H ở tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, Hoàng P1 điều khiển xe mô tô biển số 68G1-330.28 chở Chí H và Chí B1, Phước V điều khiển xe mô tô biển số 67K1-773.33 chở Thành T, Vũ P điều khiển xe mô tô biển số 83FE-0574 chở B2 mang theo bao đựng hung khí nói trên đến quán Tùng C. Khi đến nơi, tất cả dừng xe trước quán, Chí H nhìn vào quán thấy Chí P2 đang ngồi uống nước cùng với Đinh Văn H5, Võ Minh A, Phạm Huyền N1. Chí H chỉ tay vào trong quán nói “đánh thằng đầu tóc vàng kìa” rồi Chí H xông vào dùng tay, chân đánh vùng vai trái của P2, còn T, Vũ P, Hoàng P1 dùng tay và B1 dùng mũ bảo hiểm cũng xông vào đánh P2. B2 cầm 01 cây kiếm bằng kim loại chạy vào chém xuống bàn của quán. Lúc này, P2 và nhóm bạn đang ngồi cùng là A, H5, N1 sợ nên bỏ chạy vào trong quán, T, V, Vũ P lấy ghế của quán cà phê ném về phía P2 nhưng không trúng. Sau đó, các bị cáo H, V, Trụ, Vũ P, Hoàng P1, Chí B1 cùng đối tượng tên B2 quay ra lấy xe mô tô tẩu thoát và cất giấu các hung khí.
Ngày 31/8/2023 Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T ban hành Công văn số 460 đề nghị xử lý nghiêm vụ Gây rối trật tự công cộng xảy ra tại quán Tùng Coffee nói trên.
Cáo trạng số 177/CT-VKS-TA ngày 05/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo Lê Chí H, Nguyễn Phước V, Trần Thành T, Trần Vũ P, Trần Hoàng P1, Trần Chí B1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Các Điều 46, 47, 58, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Chí H từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.
- Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo Nguyễn Phước V, Trần Thành T, mỗi bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo Trần Vũ P, Trần Chí B1, Trần Hoàng P1, mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiếm bằng kim loại màu trắng sáng dài 81cm, có cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi kiếm dài 56cm được bọc bằng vỏ gỗ màu đen; 01 cây đao tự chế bằng kim loại dài 47cm; 01 cây đao tự chế bằng kim loại dài 48cm; 01 cây đao tự chế bằng kim loại màu trắng sáng dài 72cm.
- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, màu đỏ, biển số 67K1-773.33.
- Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, xử lý: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamha Sirius, màu trắng xanh, biển số: 68G1-330.28; 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số: 83FE-0574.
2. Người bào chữa cho bị cáo Trần Vũ P và người bào chữa cho bị cáo Trần Chí B1 có ý kiến tranh luận với nội dung chính như sau:
Thống nhất tội danh, khung hình phạt Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo Vũ P, Chí B1. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, khi phạm tội là người chưa thành niên; Gia đình các bị cáo Vũ P, Chí B1 có hoàn cảnh khó khăn, hộ nghèo, ông nội bị cáo Vũ P có công với Nhà nước, được tặng giấy khen; Mẹ bị cáo B1 bị ung thư, cha bỏ đi từ khi bị cáo còn nhỏ là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội, nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hành vi của bị cáo chưa gây tổn tại gì về mặt vật chất, đặc biệt các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo Vũ P, Chí B1 được hưởng án treo, tạo điều kiện cho các bị cáo hoà nhập xã hội thành công dân tốt.
3. Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo Lê Chí H, Nguyễn Phước V, Trần Thành T, Trần Vũ P, Trần Hoàng P1, Trần Chí B1 tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 06/8/2023, tại quán T7, số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương các bị cáo Lê Chí H, Nguyễn Phước V, Trần Thành T, Trần Vũ P, Trần Hoàng P1, Trần Chí B1 đã sử dụng chân, tay, nón bảo hiểm đánh Ngô Chí P2, sau đó dùng hung khí là cây kiếm bằng kim loại, ghế ném làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng chỉ vì lòng ganh tị, ích kỷ, muốn thể hiện, các bị cáo sử dụng hung khí để đi đánh nhau, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, hành vi đó xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh, hoạt động bình thường ở nơi công cộng, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể.
Bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác tham gia với vai trò giúp sức, trong đó bị cáo P1 tích cực tham gia, chuẩn bị hung khí, thể hiện vai trò của các bị cáo H và P1 cao hơn nên phải chịu mức án cao hơn.
[6] Bị cáo Trần Hoàng P1, Lê Chí H, Trần Vũ P, Trần Chí B1 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo V, Trụ, Vũ P, Hoàng P1, B1 phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo H rủ rê các bị cáo Vũ P, B1, Hoàng P1 thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi là tình tiết tăng nặng theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Gia đình các bị cáo Vũ P và Chí B1 có hoàn cảnh khó khăn, hộ nghèo; Ông nội bị cáo Vũ P có công cách mạng, được Ban chấp hành Hội cựu chiến binh tặng giấy khen; Mẹ bị cáo B1 bị ung thư, cha bỏ đi từ khi bị cáo B1 còn nhỏ là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[9] Bị cáo B1 có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cha của bị cáo bỏ bị cáo từ nhỏ, mẹ của bị cáo bị bệnh ung thư, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo B1 hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương.
[10] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với bị cáo B1 cần áp dụng hình phạt như đã phân tích ở mục [9].
[11] Về xử lý vật chứng:
- 01 cây kiếm N bằng kim loại màu trắng sáng dài 81cm, cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi kiếm dài 56cm được bọc bằng vỏ gỗ màu đen; 01 cây đao tự chế bằng kim loại dài 47cm; 01 cây đao tự chế bằng kim loại dài 48cm; 01 cây đao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 72cm là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, màu đỏ, biển số 67K1-773.33, số máy CGA1526405, số khung RLSDL11ANKV126482 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, xử lý 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamha Sirius, màu trắng xanh, biển số: 68G1-330.28, số khung RLCS5C6H0FY116083, số máy 5C6H-116045; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số: 83FE-0574, số khung 51000388, số máy 015375.
[12] Đối với đối tượng tên B2 tham gia cùng các bị cáo hiện nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, khi nào rõ xử lý sau.
[13] Các bị cáo có hành vi đánh trúng vai, tay của ông P2 nhưng không gây thương tích, ông P2 không yêu cầu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét.
[14] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Các Điều 46, 47, 58, 91, 101 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Chí H.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Phước V, Trần Thành T.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Hoàng P1.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Vũ P.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58, 65, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Chí B1.
- Các Điều 109, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo: Lê Chí H, Nguyễn Phước V, Trần Thành T, Trần Vũ P, Trần Hoàng P1, Trần Chí B1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt các bị cáo:
Lê Chí H 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
Nguyễn Phước V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
Trần Thành T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
Trần Vũ P 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.
Trần Hoàng P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.
Trần Chí B1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án 30/8/2024.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trả tự do cho bị cáo Trần Chí B1 ngay tại phiên toà nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiếm N bằng kim loại màu trắng sáng dài 81cm, có cán bằng gỗ màu đen dài 25cm, lưỡi kiếm dài 56cm được bọc bằng vỏ gỗ màu đen; 01 cây đao tự chế bằng kim loại dài 47cm; 01 cây đao tự chế bằng kim loại dài 48cm; 01 cây đao tự chế bằng kim loại màu trắng sáng dài 72cm.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Suzuki, số loại FU150FI RAIDER, thể tích 147cm³, màu đỏ, biển số 67K1 - 773.33, số máy CGA1-526405, số khung RLSDL11ANKV126482 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy, xe 01 kiếng).
- Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T để tiếp tục xác minh, xử lý: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Yamha, số loại Sirius-5C6H, thể tích 110.3cm³, màu trắng - xanh, biển số: 68G1-330.28, số khung RLCS5C6H0FY116083, số máy 5C6H-116045 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy, xe 01 kiếng) và 01 xe mô tô hai bánh (kiểu dáng Wave), nhãn hiệu, số loại: Không rõ, màu xanh, biển số: 83FE-0574, số khung: RMVWCHDMV51D00388, số máy: VTT32JL1P52FMH015375 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy, xe 01 kiếng, không chìa khóa, đuôi đèn phía sau bị bể, không bửng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí:
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo: Lê Chí H, Nguyễn Phước V, Trần Thành T, Trần Vũ Ph, Trần Hoàng Ph, Trần Chí B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
