Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 217/2024/HSPT

Ngày 27 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết.

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Huờn

2. Bà Nguyễn Thị My My

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 230/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 309/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn C.

Sinh ngày 02 tháng 12 năm 1992, tại: thành phố Hải Phòng.

Nơi cư trú: Liên gia C, tổ dân phố D, phường T, TP ., tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Đoàn Văn T, sinh năm 1964 và con bà: Vũ Thị T1, sinh năm 1966. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/3/2017, bị Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 09/8/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn C: Ông Nguyễn Đình H – Sinh năm: 1965 – Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ Có mặt.

Địa chỉ: Số B đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị hại:

  1. Ông Huỳnh Thanh V, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Số E trục lộ A, Buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
  2. Ông Nguyễn Khánh T2, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Số G T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Ngoài ra trong vụ án có bị cáo Nguyễn Phi H1, Phạm Văn T3, Nguyễn Văn T4 nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, tại quán B1-a của ông Lê Văn M tại địa chỉ số B T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Các anh Huỳnh Thanh V, Nguyễn Khánh T2, Nguyễn Hùng V1 và Trần Thế T5 đang chơi tại bàn số 2 của quán tính từ ngoài cửa vào. Lúc này, Nguyễn Văn T4 cùng một người thanh niên tên T6 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến đánh B-a bàn bên cạnh nhóm của anh V. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, ông Lê Văn M1 và anh Nguyễn Quốc H2 cũng đến quán B1-a nêu trên. Khi vào quán, ông M1 và anh H2 đứng tại bàn Bi-a của nhóm anh V để xem đánh B-a. Trong lúc anh T2 đang đánh 01 lượt cơ Bi-a nhưng không biết kết quả trúng hay chưa thì ông M1 nói “Trúng rồi” và quay sang hỏi H2 thì H2 cũng bảo “Trúng rồi”. Nghe vậy, anh V nói với H2 “Chú M1 lớn nói trúng tao nể, còn mày nhỏ quen biết gì mà nói chuyện” thì ông M1 với anh H2 bỏ ra về. Khoảng 10 phút sau thì T4 cũng bỏ ra về, còn nam thanh niên tên T6 tiếp tục ở lại quán B1-a. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Phi H1 đang ở nhà tại địa chỉ số C Hồ G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì T4 đem theo 01 con dao dài khoảng 45cm, cán bằng gỗ màu vàng nâu đến gặp H1 và kể với H1 khi đang chơi B-a tại quán ông M thì có mấy người chơi Bi-a ở bàn bên cạnh đòi đánh T4 và rủ H1 đến quán B-a để đánh những người trên thì H1 đồng ý. Lúc này, H1 sử dụng điện thoại di động hiệu N màu đen gắn sim thuê bao số 0355.793.747 gọi điện thoại cho Đoàn Văn C nói T4 bị người khác đánh tại quán B1-a, nên H1 rủ C đến nhà H1 rồi cùng với T4 đi đánh lại những người đòi đánh T4 thì C đồng ý. Một lúc sau, C cầm theo 02 cây dao rựa đến gặp H1 và T4 rồi cùng nhau đi đến quán B1-a của ông M. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H1, T4 và C đến quán B1-a thì T4 cầm 01 con dao dài khoảng 45cm, cán bằng gỗ màu vàng nâu đi vào trong quán đứng đối diện, hơi lệch về phía bên trái người anh V rồi chém 01 phát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải thì anh V dơ tay trái lên đỡ làm lưỡi dao trúng vào gò má trái, vành tai trái, mu đốt hai ngón 3 bàn tay trái, gãy xương hàm dưới trái của anh V gây thương tích. Anh V bỏ chạy ra phía sau quán, còn anh T2 cầm cơ B-a định đánh về phía T4 thì bị H1 dùng 01 cây dao rựa dài khoảng 01m, cán bằng gỗ màu vàng dùng lưỡi rựa và sống rựa chém nhiều nhát về phía anh T2 làm gãy cơ B-a và gây thương tích xây xát vùng cổ trước trái, vùng thành ngực trái, khuỷu tay trái, cạnh ngoài khớp bàn tay trái, gãy xương sườn bên trái của anh T2; đối tượng C cầm 01 con dao rựa đứng cạnh bàn của nhóm anh V để giúp sức cho H1 và T4 ngăn chặn những người có ý định đánh trả lại, ngăn cản việc nhóm anh V chạy trốn. Sau đó, anh T2 bỏ chạy ra ngoài đường trước quán B1-a. Còn T4, H1 và C lên xe Mô tô tẩu thoát.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 157/KLTTCT-PY ngày 30/01/2024, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kêt luận thương tích Huỳnh Thanh V:

  1. Các kết quả chính:
    1. Kết quả khám giám định:
      • - Vết thương để lại sẹo hơi chéo vùng gò má trái, đầu ngoài nằm dưới vành tai trái, bờ đều, gọn, kích thước (5,5 x 0,1)cm.
      • - Vết thương để lại sẹo hơi chéo mặt trước 1/3 giữa – dưới vành tai trái, sẹo không co rúm, kích thước (2 x 0,1)cm.
      • - Vết thương để lại sẹo hơi chéo mặt mu, đốt hai ngón ba bàn tay trái, bờ đều, gọn, kích thước (4 x 0,1)cm.
      • - Gãy lồi cầu xương hàm dưới trái.
    2. Kết quả khám chuyên khoa: Không.
    3. Kết quả cận lâm sàng:
      • - X quang hàm chếch trái: Gãy lồi cầu xương hàm dưới bên trái.
    4. Kết quả khác: Không.
  2. Kết luận:
    1. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Thanh V:

      Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của bộ Y: Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Thanh V tại thời điểm giám định là: 16%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    2. Kết luận khác:
      • - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Huỳnh Thanh V:
      • + Vết thương để lại sẹo hơi chéo vùng gò má trái, đầu ngoài nằm dưới vành tai trái, bờ đều, gọn, kích thước (5,5 x 0.1)cm, tỷ lệ: 6%.
      • + Vết thương để lại sẹo hơi chéo mặt trước 1/3 giữa – dưới vành tai trái, sẹo không co rúm, kích thước (2 x 0,1)cm, tỷ lệ: 2%.
      • + Vết thương để lại sẹo hơi chéo mặt mu, đốt hai ngón ba bàn tay trái, bờ đều, gọn, kích thuớc (4 x 0,1)cm, tỷ lệ: 1%.
      • + Gãy lồi cầu xương hàm dưới trái, tỷ lệ: 8%.
      • - Vật tác động: Vật sắc, bén.
      • - Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương để lại sẹo hơi chéo mặt mu đốt hai ngón ba bàn tay trái, bờ đều, gọn; Vết thương để lại sẹo hơi chéo vùng gò má trái, bờ đều, gọn; Gãy lồi cầu xương hàm dưới trái; Vết thương để lại sẹo hơi chéo mặt trước 1/3 giữa – dưới vành tai trái, là do tác động trực tiếp của V2 sắc hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 158/KLTTCT-PY ngày 30/01/2024, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kêt luận thương tích Nguyễn Khánh T2:

  1. Các kết quả quả chính:
    1. Kết quả khám giám định:
      • - Xây xát để lại sẹo hơi chéo vùng cổ trước trái, ngay cơ ức đòn chũm, bờ đều, kích thước (3,5 x 0,1)cm.
      • - Xây xát để lại sẹo hơi chéo vùng thành ngực trái, ngang qua xương sườn 9 – 10, bờ nham nhở, kích thước (5 x 0,5)cm.
      • - Vết thương để lại sẹo nằm chéo mặt sau khuỷu tay trái, bờ đều, gọn, kích thuớc (2,5 x 0,5)cm.
      • - Vết thương để lại sẹo nằm chéo cạnh ngoài khớp bàn – ngón II, bàn tay phải, bờ đều, gọn, kích thước (1,2 x 0,1)cm.
      • - Gãy cung bên xương sườn số 9 bên trái.
    2. Kết quả khám chuyên khoa: Không.
    3. Kết quả cận lâm sàng:
      • - X quang ngực thẳng và chếch trái: Không thấy hình ảnh tổn thương xương lồng ngực trên phim.
    4. Kết quả khác: Không.
  2. Kết luận:
    1. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Khánh T2:

      Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của bộ Y: Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Khánh T2 tại thời điểm giám định là: 8%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    2. Kết luận khác:
      • - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Khánh T2
      • + Xây xát để lại sẹo hơi chéo vùng cổ trước trái, ngay cơ ức đòn chũm, bờ đều, kích thước (3,5 x 0,1)cm, tỷ lệ: 2%.
      • + Xây xát để lại sẹo hơi chéo vùng thành ngực trái, ngang qua xương sườn 9 – 10, bờ nham nhở, kích thước (5 x 0,5)cm, tỷ lệ: 2%.
      • + Vết thương để lại sẹo nằm chéo mặt sau khuỷu tay trái, bờ đều, gọn, kích thuớc (2,5 x 0,5)cm, tỷ lệ: 1%.
      • + Vết thương để lại sẹo nằm chéo cạnh ngoài khớp bàn – ngón II, bàn tay phải, bờ đều, gọn, kích thước (1,2 x 0,1)cm, tỷ lệ: 1%.
      • + Gãy cung bên xương sườn số 9 bên trái, tỷ lệ: 2%.
      • - Vật tác động: Vật sắc, bén.
      • - Cơ chế hình thành thương tích: Xây xát để lại sẹo hơi chéo vùng cổ trước trái; Xây xát để lại sẹo hơi chéo vùng thành ngực trái, ngang qua xương sườn 9 – 10, bờ nham nhở; Gãy cung bên xương sườn số 9 bên trái, là do tác động trực tiếp của Vật tày, cứng, có cạnh hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 309/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã quyết định:

[1] Tuyên bố: bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/8/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Phi H1, Phạm Văn T3, Nguyễn Văn T4, quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyên kháng cáo cho các bị cáo và các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2024, bị cáo Đoàn Văn C có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện cơ bản đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại điện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi, hậu quả của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đoàn Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 02 năm 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giũ nguyên Bản án sơ thẩm số 309/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Hành vi của bị cáo Đoàn Văn C có vai trò là đồng phạm giúp sức cho bị cáo Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn T4 phạm tội. Bị cáo không trực tiếp gây thương tích cho những người bị hại. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục hậu quả cho những người bị hại và được người bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo có thêm chứng cứ là có cha đẻ và ông nội là người có công với nước và được nhà nước tặng thưởng huân huy chương. Đề nghị HĐXX áp dụng các điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo đồng ý với trình bày của người bào chữa và không bào chữa, tranh luận gì thêm, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Lời khai của bị cáo Đoàn Văn C tại phiên toà phúc thẩm là cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe người khác nên vào Ngày 03/12/2023, tại quán B1 ở địa chỉ số B T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đoàn Văn C là người chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội là dao rựa và xe máy chở các bị cáo Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn T4 đến quán B1-a chém anh Huỳnh Thanh V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16% và anh Nguyễn Khánh T2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8%. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đoàn Văn C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đoàn Văn C thấy rằng: Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đoàn Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 02 năm 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm chứng cứ mới có cha đẻ và ông nội là người có công được nhà nước tặng thưởng huân huy chương. Nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

[3]. Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đoàn Văn C là phù hợp.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn C.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 309/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2]. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/8/2024.

[3]. Án phí HSPT: Bị cáo Đoàn Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND TP Buôn Ma Thuột;
  • - VKSND TP Buôn Ma Thuột;
  • - Công an TP Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS TP Buôn Ma Thuột;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HSPT ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 217/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe người khác nên vào Ngày 03/12/2023, tại quán B1 ở địa chỉ số B T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đoàn Văn C là người chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội là dao rựa và xe máy chở các bị cáo Nguyễn Phi H1, Nguyễn Văn T4 đến quán B1-a chém anh Huỳnh Thanh V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16% và anh Nguyễn Khánh T2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8%. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đoàn Văn C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger