TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 217/2024/HS-ST Ngày 25-9-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 204/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 791/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Vi Văn Đ sinh ngày 24 tháng 4 năm 1983 tại Hà Nội; nơi cư trú: Xóm A, Đ, xã Đ, huyện M, T: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn L và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Đặng Thị M và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 61/2013/HSST ngày 16/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 10/5/2024, tạm giam ngày 17/5/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 10/5/2024, Vi Văn Đ khiển xe mô tô biển số 36B6-074.64 từ nhà trọ đến khu vực đường T, quận L, thành phố H mục đích tìm mua ma túy H sử dụng cho bản thân. Tại đây, Đ1 01 người nam giới không quen biết ngồi trên xe mô tô (Đkhông nhớ biển kiểm soát) mời mua ma túy. Đđồng ý, đưa cho nam giới 600.000 đồng và điều khiển xe đi theo người nam giới này đến khu vực ngõ G N, phường H, quận L bảo Đ2 còn người này đi vào trong ngõ, khoảng 03 phút sau quay lại đưa cho Đ01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ bên trong có chứa ma túy Heroine rồi đi đâu không rõ. Đcầm túi nilon chứa ma túy ở tay trái rồi lên xe mô tô đi ra đến khu vực trước cửa nhà số B N, phường H, quận L bị tổ công tác Công an phường Hkiểm tra, Đức thả từ tay trái xuống đất, cách chân trái 30 cm 01 túi nilon màu trắng, mép viền đỏ kích thước 05x08cm bên trong chứa chất bột dạng cục, màu trắng, nghi là ma tuý. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng, đưa Đ3 trụ sở Công an phường H, H biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Đ01 chiếc xe mô tô biển số 36B6-074.65.
Tại Kết luận giám định số 569/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của phòng KCông an thành phố Hkết luận đối với chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn Đ4: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, loại Heroine.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Đ Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận L được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với xe mô tô biển số 36B6-074.65, kết quả điều tra xác định được là thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn H1 năm 1994, nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh HóaAnh H1hiện vắng mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không rõ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục tạm giữ xe xác minh, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 213/CT-VKSLC ngày 29/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Vi Văn Đ4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn Đ4 khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 10/5/2024, Vi Văn Đ5 hành vi cất giữ trái phép 0,23 gam Heroine để sử dụng cho bản thân bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số B N, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo từng tham gia quân đội và được tặng nhiều bằng khen, giấy khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép ma túy là loại Heroine có khối lượng 0,23 gam; bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhân thân bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, không có ý thức sửa chữa sai lầm, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Heroine là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vi Văn Đ4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vi Văn Đ4 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/5/2024.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong lượng ma tuý và vỏ bao gói còn lại sau giám định số 569MT/PC09.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/8/2024 giữa Công an quận Lvà Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vi Văn Đ4 phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Khoa |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Bích Lý | Hà Thị Nga | Bùi Duy Khoa |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Đ tàng trữ TPCMT
