TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 217/2024/HS-ST Ngày: 21 - 8 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Bế Thiện và ông Lê Đình Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu N - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2024/TLST-HS, ngày 16/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2024/QĐXXST-HS ngày 07/8/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: KÌNH KIM T, sinh ngày 22/8/1988; tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nơi ở: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kình Đức C (Đã chết) và bà Chu Kim Thị. Có chồng Hoàng Dương T và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/9/2010 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đặng Thị C1, sinh năm 1994.
- Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1997
- Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1986
- Anh Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1976
Nơi ĐKHKTT: Thôn S, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái.
Nơi ở hiện nay: Tổ C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
Trú tại: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
Trú tại: Tổ B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng:
- Anh Đàm Anh T2, sinh năm 1982
- Anh Hoàng Dương T, sinh năm 1989.
Trú tại: Tổ C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ở hiện nay: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 05 phút ngày 29/01/2024, tổ công tác của Phòng C2 Công an tỉnh T kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ H1 thuộc tổ C, phường Q, thành phố T. Qua kiểm tra, phát hiện tại phòng số 105 có Nguyễn Mạnh T1 và Hoàng Thị D, tại phòng số 206 có Ngô Văn Đ và Đặng Thị C1 có hành vi quan hệ tình dục với nhau.
Thu giữ tại phòng số 105: Số tiền 2.100.000 đồng của Hoàng Thị D, 01 lõi bao cao su và 01 vỏ bao cao su màu vàng, in dòng chữ Water & lotus đã qua sử dụng, thu giữ tại vị trí nền nhà tại đầu giường bên phải từ ngoài vào cửa phòng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, vỏ màu vàng, bị nứt vỡ phần kính ốp mặt sau lưng, máy đã qua sử dụng có gắn 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0383.855.xxx của Hoàng Thị D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, vỏ nhựa màu đỏ, mặt kính màn hình trước bị nứt vỡ, trong máy có 01 sim thuê bao số 0853335014 của Nguyễn Mạnh T1.
Thu giữ tại phòng số 206: Số tiền 600.000 đồng của Đặng Thị C1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu đen, có bàn phím bấm màu đen, trong máy có 01 sim số thuê bao 0853328612 của Ngô Văn Đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, vỏ màu vàng, bị rạn nứt phần kính bảo vệ ốp mặt trước màn hình, gắn sim số thuê bao 0325793639 của Đặng Thị C1, 02 bao cao su nhãn hiệu Water & lotus, trong đó có 01 (một) bao cao su đã sử dụng (vỏ bao cao su và lõi).
Đồng thời Hoàng Thị D, Đặng Thị C1, Ngô Văn Đ, Nguyễn Mạnh T1 đều khai nhận được Kình Kim T3 môi giới để mua bán dâm. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở trọ của Kình Kim T4 tại tổ A, phường H, thành phố T, tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, vỏ nhựa màu xanh, có gắn 02 sim có số thuê bao +84358481630 và +84878102368; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu xanh, có bàn phím bấm màu đen, có gắn 02 sim có số thuê bao: SIM1 số +84373727584 và SIM2 số +84363166532; 02 vỏ nhựa đựng Sim, trên bề mặt trước và sau đều in chữ V; số tiền 5.000.000 đồng.
Quá trình điều tra Kình Kim T4 khai đã môi giới cho Hoàng Thị D bán dâm cho Nguyễn Mạnh T1 và Đặng Thị C1 bán dâm cho Ngô Văn Đ và những khách khác (không xác định được lai lịch địa chỉ) để thu lời. Cụ thể: Kình Kim T4 là đối tượng không có nghề nghiệp nên đã nảy sinh ý định môi giới mại dâm nhằm thu lợi bất chính. Trinh bắt đầu hoạt động môi giới mại dâm từ tháng 12/2023. Để tìm được khách có nhu cầu mua dâm, T4 đã sử dụng số điện thoại 0878.102.xxx, đăng ký tài khoản Telegram tên “Tuong Vy” truy cập mạng Internet và đăng bài quảng cáo với nội dung là có nhân viên bán dâm tại khu vực thành phố T, kèm theo số điện thoại để liên lạc giao dịch mua bán dâm là 0363.166532. Trinh tuyển được 02 gái bán dâm là: Hoàng Thị D và Đặng Thị C1. Khi có khách liên hệ T4 sẽ thỏa thuận với khách qua điện thoại để thống nhất giá, địa điểm mua bán dâm và sắp xếp cho D, C1 đi bán dâm cho khách. Trinh thỏa thuận với D, C1: Nếu khách mua dâm nhanh thì thu của khách 600.000 đồng, gái bán dâm được 400.000 đồng, T4 được hưởng 200.000 đồng; nếu khách mua dâm qua đêm thì thu 2.000.000 đồng, D được 1.700.000 đồng và T4 được hưởng 300.000 đồng; với C1 thì T4 hưởng 500.000 đồng tiền môi giới bán dâm.
Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, Nguyễn Mạnh T1 sử dụng số điện thoại 0853.335.xxx gọi đến số điện thoại 0363.166.xxx của T4 để yêu cầu một gái bán dâm đến nhà nghỉ Hoa Mộc H với mục đích để mua dâm qua buổi trưa. Hai bên thoả thuận giá mua dâm là 2.000.000 đồng. Sau đó, T1 đến nhà nghỉ H1 thuê phòng số 105 rồi nhắn số phòng cho T4. Sau đó, T4 sử dụng tài khoản ứng dụng Zalo có tên là “Phong A” nhắn tin cho D để bảo D đi đến phòng số 105 nhà nghỉ H1 bán dâm, nhận số tiền 2.000.000 đồng của khách mua dâm. D đồng ý và thuê taxi đi đến phòng 105, nhà nghỉ H1 để bán dâm thì gặp T1 đang chờ ở trong phòng. T1 trả cho D 2.000.000 đồng và bo cho D thêm 100.000 đồng. Sau khi nhận tiền, D đã tự cởi quần áo, lên giường dùng tay kích thích cho dương vật của T1 cương cứng, xé bao cao su mang theo, lấy lõi đeo vào dương vật của T1. Cả hai nằm trên giường quan hệ tình dục với nhau, khoảng 5 phút sau thì T1 xuất tinh vào bên trong bao cao su, sau đó T1 tháo bao cao su vứt xuống nền nhà rồi cùng D nằm trên giường nói chuyện. Đúng lúc này, tổ công tác của Phòng C2 Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra phòng nghỉ trên phát hiện sự việc.
Lần thứ 2: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, Ngô Văn Đ sử dụng số điện thoại 0853.328.xxx gọi đến số điện thoại 0363.166.xxx của T4 để liên hệ yêu cầu một gái bán dâm đến nhà nghỉ H1 để đi nhanh (quan hệ tình dục 01 lần), T4 đồng ý và thoả thuận giá mua bán dâm là 600.000 đồng. Sau đó, Đ đến nhà nghỉ H1 thuê phòng số 206 để chờ gái bán dâm đến. Sau khi giao dịch với Đ xong, T4 sử dụng tài khoản ứng dụng Zalo tên “Phong A” liên hệ với Đặng Thị C1 để thoả thuận bán dâm. Sau khi trao đổi với T4, C1 đã đến phòng 206 nhà nghỉ H1 gặp Đ rồi nhận số tiền 600.000 đồng. Sau đó, C1 tự cởi quần áo, lên giường dùng tay kích thích dương vật của Đ rồi dùng bao cao su mang theo xé ra, lấy lõi bao cao su đeo vào dương vật của Đ. Cả hai nằm trên giường quan hệ tình dục với nhau, Đ chưa xuất tinh thì bị tổ công tác của Phòng C2 Công an tỉnh T kiểm tra, phát hiện sự việc và tiến hành lập biên bản. Việc môi giới mại dâm ngày 29/01/2024, T4 chưa nhận được tiền hưởng lợi bất chính từ D và C1.
Tại phiên tòa bị cáo Kình Kim T4 khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Bản cáo trạng số 195/CT-VKSTPTN, ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Kình Kim T4 về tội: “Môi giới mại dâm”, theo điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Kình Kim T4 phạm tội: “Môi giới mại dâm”
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 328; khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Kình Kim T4 từ 04 năm đến 05 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 20 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su trong đó có 01 bao cao su đã sử dụng, 01 lõi bao cao su và 01 vỏ bao cao su, 02 vỏ nhựa đựng sim; Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 của Kình K, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max của Hoàng Thị D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max của Đặng Thị C1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s của Nguyễn Mạnh T1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 của Ngô Văn Đ, số tiền 2.700.000 đồng của Đặng Thị C1 và Hoàng Thị D; Tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng của Kình K để đảm bảo thi hành án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về chăm sóc mẹ già bị bệnh và các con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 29/01/2024, Kình Kim T4 đã 02 lần môi giới cho Hoàng Thị D, Đặng Thị C1 bán dâm cho khách để hưởng lợi bất chính. Cụ thể như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, tại phòng số 105 nhà nghỉ H1, thuộc tổ C, phường Q, thành phố T, Kình Kim T4 đã thực hiện hành vi môi giới mại dâm cho Nguyễn Mạnh T1 mua dâm với Hoàng Thị D với giá 2.000.000 đồng, để T4 được hưởng lợi bất chính 300.000 đồng.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, tại phòng số 206 nhà nghỉ H1, thuộc tổ C, phường Q, thành phố T, Kình Kim T4 đã thực hiện hành vi môi giới mại dâm cho Ngô Văn Đ mua dâm với Đặng Thị C1 với giá 600.000 đồng, để T4 được hưởng lợi bất chính 200.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Điều 328 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm :
- đ) Đối với 02 người trở lên”.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới chính sách phòng chống tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là tác nhân gây ra nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành hình phạt tù xong, bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, giáo dục bản thân trở thành công dân tốt, mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra, cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Đối với vật chứng là 02 (hai) bao cao su nhãn hiệu Water & lotus, trong đó có 01 (một) bao cao su đã sử dụng (vỏ bao cao su và lõi), ký hiệu niêm phong BS2; 01 (một) lõi bao cao su và 01 (một) vỏ bao cao su màu vàng, in dòng chữ Water & lotus đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong BS1; 01 (một) vỏ nhựa đựng sim, trên bề mặt trước và sau đều in chữ V, tại mặt màu trắng có in chữ số mã vạch 8984048000916968274, ký hiệu niêm phong VS1; 01 (một) vỏ nhựa đựng sim, trên bề mặt trước và sau đều in chữ V, tại mặt màu trắng có in chữ số mã vạch 8984048000919366324, ký hiệu niêm phong VS2 cần tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng.
Đối với vật chứng là: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, vỏ nhựa màu xanh, số Imeil: 863448051609813, số I: 863448051613716, trong máy đang gắn hai sim có số thuê bao +84358481630 và +84878102368, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong KT1 của Kình Kim T4 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 TA-1174 (c) N1, vỏ màu xanh, có bàn phím bấm màu đen, số Sêril: 357723105463794 và số Sê ri2: 357723105463802, trong máy đang gắn hai sim có số thuê bao sim1 số: +84373727584 và sim2 số: +84363166532, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong KT2 của Kình Kim T4; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, vỏ màu vàng, bị nứt vỡ phần kính ốp mặt sau lưng, số Imeil: 353110105035182, số I: 353110105066757, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong D, điện thoại của Hoàng Thị D; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, vỏ màu vàng, bị rạn nứt phần kính bảo vệ ốp mặt trước màn hình, số Imei: 353889108937334, số I: 353889108716480, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong C, điện thoại của Đặng Thị C1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, vỏ nhựa màu đỏ, mặt kính màn hình trước bị nứt vỡ, máy đã qua sử dụng, số Imeil: 866531046252273, số Imei2: 866531046252265, trong máy có một sim thuê bao số 0853.335014, ký hiệu niêm phong MT1, điện thoại của Nguyễn Mạnh T1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 TA-1034 (c) N1, vỏ màu đen, có bàn phim bấm màu đen, trên các phím bấm có số, chữ cái, ký hiệu, ký tự màu trắng, máy đã qua sử dụng, số Sê ril: 357327084989025, số Sê ri2: 357327084989033, trong máy có một sim số thuê bao 0853.328612, ký hiệu niêm phong QĐ1, điện thoại của Ngô Văn Đ, xác định các điện thoại trên bị cáo T4 và chị D, chị C1, anh Đ, anh T1 đều liên lạc vào hành vi mua bán dâm; số tiền 2.700.000 đồng thu giữ của Hoàng Thị D và Đặng Thị C1 là tiền thu lời bất chính cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền: 5.000.000 đồng của Kình Kim T4 cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Tuy nhiên, về phần hình phạt chính có phần nghiêm khắc so với nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm do bị cáo gây ra. Do đó, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, thái độ thành khẩn và thực sự ăn năn hối cải của bị cáo, gia đình có mẹ bị bệnh, các con còn nhỏ, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo so với đề nghị của Viện kiểm sát.
[7] Trong vụ án này, Nguyễn Mạnh T1,Ngô Văn Đ, Hoàng Thị D, Đặng Thị C1 là những người mua, bán dâm, hành vi đó không cấu thành tội phạm hình sự nên Phòng C2 Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T1, Đ, D, C1.
Đối với anh Đàm Anh T2 là chủ nhà nghỉ H1 là người cho Ngô Văn Đ, Nguyễn Mạnh T1 thuê phòng nghỉ để mua dâm. Quá trình điều tra xác định anh T1 không biết việc Nguyễn Mạnh T1, Ngô Văn Đ thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Kình Kim T5 còn khai nhận đã thực hiện hành vi môi giới mại dâm nhiều lần khác trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến khi bị bắt nhưng T4 không nhớ thời gian, địa điểm, thông tin khách mua dâm nên không có căn cứ xử lý.
[8] Quyết định tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, ra Quyết định tạm giam bị cáo Kình Kim T4 với thời hạn là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 328; khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự. Các Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Kình Kim T4 phạm tội “Môi giới mại dâm".
- Về hình phạt chính: Xử phạt Kình Kim Trinh 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung (phạt tiền) Kình Kim Trinh 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Quyết định tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra Quyết định tạm giam bị cáo Kình Kim T4 với thời hạn là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, vỏ nhưạ màu xanh, số Imeil: 863448051609813, số I: 863448051613716, trong máy đang gắn hai sim có số thuê bao +84358481630 và +84878102368, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong (KT1).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 TA-1174 (c) N1, vỏ màu xanh, có bàn phím bấm màu đen, số Sêril: 357723105463794 và số Sêri2: 357723105463802, trong máy đang gắn hai sim có số thuê bao siml số: +84373727584 và sim2 số: +84363166532, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong (KT2).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, vỏ màu vàng, bị nứt vỡ phần kính ốp mặt sau lưng, số Imei 1: 353110105035182, số I: 353110105066757, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong (D).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, vỏ màu vàng, bị rạn nứt phần kính bảo vệ ốp mặt trước màn hình, số Imei: 353889108937334, số I: 353889108716480, máy đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong (C)
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, vỏ nhựa màu đỏ, mặt kính màn hình trước bị nứt vỡ, máy đã qua sử dụng, số Imeil: 866531046252273, số Imei2: 866531046252265, trong máy có một sim thuê bao số 0853335014, ký hiệu niêm phong (MT1).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 TA-1034 (c) N1, vỏ màu đen, có bàn phim bấm màu đen, trên các phím bấm có số, chữ cái, ký hiệu, ký tự màu trắng, máy đã qua sử dụng, số Sêril: 357327084989025, số Sêri2: 357327084989033, trong máy có một sim số thuê bao 0853328612, ký hiệu niêm phong (QĐ1).
- Số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của Hoàng Thị D và Đặng Thị C1.
- Về án phí: Buộc bị cáo Kình Kim T4 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo (K), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Hoàng Thị D, chị Đặng Thị C1, anh Ngô Văn Đ, anh Nguyễn Mạnh T1), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bao cao su nhãn hiệu Water & lotus, trong đó có 01 (một) bao cao su đã sử dụng (vỏ bao cao su và lõi), ký hiệu niêm phong (BS2); 01 (một) lõi bao cao su và 01 (một) vỏ bao cao su màu vàng, in dòng chữ Water & lotus đã qua sử dụng, ký hiệu niêm phong (BS1); 01 (một) vỏ nhựa đựng sim, trên bề mặt trước và sau đều in chữ V, tại mặt màu trắng có in chữ số mã vạch 8984048000916968274, ký hiệu niêm phong (VS1); 01 (một) vỏ nhựa đựng sim, trên bề mặt trước và sau đều in chữ V, tại mặt màu trắng có in chữ số mã vạch 8984048000919366324, ký hiệu niêm phong (VS2).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
Tạm giữ số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) của Kình Kim T4 để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 và ủy nhiệm chi số 23 ngày 30/7/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Lê Thị Giang |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về môi giới mại dâm
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kình Kim T phạm tội "Môi giới mại dâm"
