TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số 217/2024/HS-ST Ngày: 06/12/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.
Thẩm phán: Ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Mai Khanh
Bà Bùi Thị Hoa
Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 06/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2024/TLST-HS ngày 29/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 222/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Sỹ Q; tên gọi khác: không; sinh ngày 12/10/1988, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: khối I, phường Đ, thành phố V, Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T; sinh năm: 1963 và bà: Trần Thị V; sinh năm: 1964; vợ: Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1987; Con: có 02 người (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam và bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 11/01/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Trung H1 – Luật sư, Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh N. Vắng mặt.
2
- Người bị hại:
- Anh Nguyễn Tiến T1. Địa chỉ: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Anh Ngô Xuân C. Địa chỉ: Số B, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Đậu Xuân P. Địa chỉ: Số A, đường P, khối F, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Võ Thanh T2, chị Nguyễn Thị Kiều . Địa chỉ: B, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thành C1. Địa chỉ: Số F, đường H, khối F, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Chị Trần Thị H2. Địa chỉ: Số A, đường T, khối A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Hà Quang D. Địa chỉ: Nhà số A đường M, xóm I, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Hồ Bá Đ. Địa chỉ: Số B, đường T, khối C, phường Đ, TP V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh Hồ Bá Đ: Ông Nguyễn Văn N. Công ty L4 - Đoàn luật sư tỉnh N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân và trang trải các khoản nợ, tiền lãi đến kỳ hạn phải thanh toán nên Lê Sỹ Q đã nảy sinh ý định đi đến các cơ sở cho thuê xe tự lái rồi mang đến các hiệu cầm đồ trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An để thế chấp lấy tiền. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2023, Lê Sỹ Q đã thực hiện 06 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ sở cho thuê xe tự lái. Cụ thể như sau:
Hành vi thứ nhất: vào ngày 11/3/2023, Lê Sỹ Q đến cửa hàng dịch vụ cho thuê xe máy tự lái có địa chỉ tại số C, đường V, thành phố V của anh Nguyễn Tiến T1, làm chủ, đặt vấn đề thuê xe máy phục vụ công việc đi lại của cá nhân. Anh T1 và Q thống nhất làm hợp đồng cho thuê xe máy nhãn hiệu Honda Wave ALPHA, màu: xanh, đen, bạc, biển kiểm soát: 37B2-820.44 mang tên Nguyễn Tiến T1, thỏa thuận với giá 120 ngàn đồng/ngày, số tiền phải thanh toán trong 3 ngày, nếu muốn gia hạn thì phải gọi điện thoại. Sau khi thuê được xe, Lê Sỹ Q đưa xe máy đến hiệu cầm đồ Đại Cương địa chỉ số A, đường T, thành phố V, Nghệ An do chị Trần Thị H2 là chủ dịch vụ cầm đồ. Q nói với chị H2 đây là xe của mình nên chị H2 tin tưởng cho thế chấp lấy số tiền 7.000.000 đồng và số tiền nay Q đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An chiếc xe môtô BKS: 37B2-820.44, có giá trị là: 8.900.000 đồng.
Hành vi thứ hai: do có mối quan hệ bạn bè chơi thân với nhau từ trước. Vào khoảng đầu tháng 4/2023, Lê Sỹ Q biết anh Hồ Bá Đ, sinh năm 1983 có mở dịch vụ kinh doanh cầm đồ Đức Mai, tại địa chỉ tại số :, đường T, thành phố V, Nghệ An. Q đặt vấn đề với anh Đ sẽ tìm khách có tài sản đưa đến cầm cắm cho anh Đ, Q sẽ chịu trách nhiệm, thẩm định các giấy tờ về tài sản mà khách đưa đến rồi cất giữ. Còn anh Đ giữ tài sản và đưa tiền cho Q để Q đưa cho khách, còn tiền lãi Q và anh Đ thỏa thuận sẽ chia đôi.
Ngày 8/4/2023, Lê Sỹ Q đến cửa hàng dịch vụ cho thuê xe tự lái Công Thành của anh Ngô Xuân C có địa chỉ tại số B, đường T, thành phố V, Nghệ An, làm chủ cửa hàng. Tại cửa hàng, Q gặp anh Nguyễn Hữu L (là nhân viên cho thuê xe) và đặt vấn muốn thuê xe ôtô tự lái từ 01 đến 02 ngày để phục vụ đi lại cá nhân. Anh L đồng ý, làm hợp đồng cho Q thuê chiếc xe ôtô nhãn hiệu Huynhdai I10, biển kiểm soát: 37K–044.38 mang tên Hoàng Thị Nhật L1 với giá cho thuê 400.000 đồng/ngày. Sau khi thuê được xe, Q lái xe đến nói với anh Hồ Bá Đ là có khách hàng có nhu cầu cắm chiếc xe ôtô với số tiền 70.000.000 đồng. Anh Đức tin T3, đưa tiền để Q đưa cho khách. Lê Sỹ Q đã sử dụng số tiền trên và tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi thuê chiếc xe ôtô nhãn hiệu Huynhdai I10, biển kiểm soát: 37K–044.38, Lê Sỹ Q đã thanh toán tiền thuê xe cho anh Ngô Xuân C đến cuối tháng 8/2023 với tổng số tiền là 59.200.000 đồng. Sau đó, anh C không liên lạc được với Q nữa nên lần theo định vị của xe ôtô Huynhdai I10, màu trắng, BKS: 37K-044.38 được biết chiếc xe trên Q đã cấm cố cho anh Hồ Bá Đ. Sau khi anh C trình bày Q đã thuê xe ôtô tự lái ở Trung tâm của anh C để đi lại và xuất trình các giấy tờ của xe, hợp đồng thuê xe cho Hồ Bá Đ xem. Biết Q đã lừa thuê xe tự lái để cắm cho mình, sợ việc mình giữ xe lại là vi phạm pháp luật nên anh Hồ Bá Đ đã trả lại chiếc xe ôtô trên cho anh Ngô Xuân C.
Kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An, chiếc xe ôtô nhãn hiệu Huynhdai I10, BKS 37K–044.38, có giá trị là: 387.000.000 đồng.
Hành vi thứ 3: vào khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4/2023, Lê Sỹ Q có mua một số trang sức bằng vàng có giá trị là 168.100.000 đồng của anh Nguyễn Thành C1 là chủ hiệu vàng Kim Công, địa chỉ số B, đường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, nhưng chưa thanh toán. Sau đó ít ngày, vì thiếu tiền nên Q đã đưa số vàng mua nợ của anh C1 đến cầm cố cho hiệu vàng Minh T4 ở đường Đ, thành phố V, Nghệ An vay số tiền 150.000.000 đồng để sử dụng số tiền vào mục đích cá nhân.
Ngày 12/4/2023, do anh C1 liên tục gọi điện đòi số tiền còn nợ đồ trang sức chưa thanh toán, nên Q đến dịch vụ thuê xe tự lái của vợ, chồng Võ Thanh T2 và Nguyễn Thị K tại địa chỉ số B, đường N, phường H, thành phố V, Nghệ An để thuê xe ôtô tự lái. Q lấy lý do thuê xe để phục vụ đi lại trong công việc làm ăn nên chị Kiều L2 hợp đồng cho Q thuê xe ôtô nhãn hiệu KIA Cerato, màu trắng, biển kiểm soát 37A - 469.28 với giá 600.000 đồng/ngày và thỏa thuận thuê trong thời gian 05 ngày, nếu muốn gia hạn thì liên lạc qua điện thoại để thông báo và phải thanh toán tiền thuê xe trước đó. Sau khi thuê được xe, Q thấy xe mình thuê của chị K giống đặc điểm xe của mình đã sử dụng trước đó nên nảy ý định làm biển số giả giống với xe cũ của Q rồi mang đến thế chấp cho anh C1 để gán nợ số tiền cũ và vay thêm tiền. Sau khi đặt mua 02 biển số giả 37A-429.49 (trùng với biển số xe Q mua từ năm 2018) và gắn đè biển số giả lên biển số của xe ôtô BKS 37A - 469.28.
Ngày 21/4/2023, Lê Sỹ Q đi xe ôtô gắn biển số giả 37A-429.49 đến hiệu vàng Kim C2 nói với anh C2 là cho Q cắm chiếc xe của mình với số tiền 200.000.000 đồng. Trong đó trả nợ số tiền 168.100.000 đồng đã mua vàng trước đó và vay thêm số tiền 31.900.000 đồng nữa để mua phụ tùng ôtô về bán cho khách. Anh C2 có hỏi giấy tờ xe thì Q nói là giấy tờ xe vợ đang để ở trong két sắt. Tin tưởng là xe của Q, anh C2 đồng ý cho Q vay thêm số tiền 31.900.000 đồng và trừ đi số tiền nợ cũ. Lê Sỹ Q và anh C2 thống nhất viết một giấy vay tiền với nội dung là: vay 110.000.000 đồng trong thời gian 10 ngày sẽ lấy lại xe, còn 90.000.000 đồng sẽ thanh toán sau. Ngày 18/6/2023, chị Nguyễn Thị K liên lạc yêu cầu Q thay dầu cho xe Kia Cerato. Vì không muốn để chị K biết chiếc xe ôtô đã cầm cắm, Q liên hệ anh C2 đưa xe ôtô có gắn biển số giả 37A-429.49 đi thay dầu ở Quốc lộ A, thuộc địa phận huyện N, Nghệ An. Trong quá trình thay dầu, Q đã quay video gửi cho chị K xem để chứng minh là chiếc xe mình đang quản lý, sử dụng và gửi cho chị K để khỏi nghi ngờ. Sau đó đến thời hạn lấy xe, anh Nguyễn Thành C1 liên tục gọi điện thoại cho Lê Sỹ Q để đòi nợ và đưa xe về. Q lấy nhiều lý do để trì hoãn và hứa sẽ lấy xe nhưng không thực hiện.
Kết luận định giá số 44/KL-HĐĐGTS ngày 9/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An, chiếc xe ôtô KIA-CERATO BKS 37A-469.28, có giá trị là: 360.000.000 đồng.
Hành vi thứ 4: Ngày 11/5/2023, để có tiền trả nợ và trả tiền thuê xe, Lê Sỹ Q tiếp tục đến dịch vụ cho thuê xe tự lái của vợ, chồng Võ Thanh T2 và Nguyễn Thị K để thuê xe ô tô tự lái. Q đến gặp chị K thuê xe, chị K hỏi lý do xe trước chưa trả mà tiếp tục thuê xe mới. Q nói dối với chị K là chiếc xe Kia Cerato thuê trước đó đang cầm cho vợ (ý nói là chiếc xe tô tô đó Q đang lừa vợ là của bạn của Q cầm, nên hiện Q đang để lại cho vợ sử dụng). Vì tiền thuê xe trước đó Q đều thanh toán đầy đủ, đúng thời gian nên chị K đồng ý và làm hợp đồng cho Q thuê thêm chiếc xe ôtô nhãn hiệu Toyota số loại Veloz Cross, màu trắng, biển kiểm soát 37K-08384 với giá 800.000 đồng/ngày, trong thời gian 7 ngày đến 10 ngày, nếu muốn gia hạn thuê xe phải liên lạc thông báo đồng thời phải thanh toán số tiền thuê xe trước đó.
Ngày 20/5/2023, sau khi thuê được xe, Lê Sỹ Q đi xe ôtô BKS 37K-08384 đến gặp anh Hà Quang D, sinh năm 1982, trú tại xóm I, xã N, thành phố V, Nghệ An nói đây là xe của chị mình, cần vay tiền để lo việc bán chung cư trả nợ và sẽ để xe lại làm tin. Anh D1 đã tin tưởng cho Q vay 02 lần (70.000.000 đồng và 90.000.000 đồng) với tổng số tiền là 160.000.000 đồng. Số tiền Q vay của anh D1 đã sử dụng vào chơi các trò chơi trên mạng và bị thua lỗ hết nên không có tiền để lấy xe về.
Sau khi thuê hai chiếc xe ôtô của chị Nguyễn Thị K, Lê Sỹ Q đã thanh toán tiền thuê xe cho chị K đến ngày 15/8/2023 với số tiền là 182.000.000 đồng. Đến đầu tháng 8/2023, khi không còn khả năng thanh toán nữa, Q đến nhà chị K thú nhận đã cắm chiếc xe thuê của chị K và xin chị K cho thêm thời gian để lấy xe về trả. Đến ngày 14/9/2023, sau khi quá hạn cho Q thuê xe một tháng như đã cam kết, chị K liên lạc với Q để nhận lại xe ôtô đã cho thuê nhưng không liên lạc được nên đến Cơ quan cảnh sát điều tra trình báo về hành vi chiếm đoạt 02 chiếc xe ôtô của Lê Sỹ Q.
Kết luận định giá số 44/KL-HĐĐGTS ngày 9/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An, chiếc xe ôtô Toyota - Veloz Cross, BKS 37K-08384, có giá trị là 580.000.000 đồng.
Hành vi thứ 5: để tiếp tục lừa anh Hồ Bá Đ có khách cần cắm xe. Ngày 20/6/2023, Lê Sỹ Q tiếp tục đến dịch vụ cho thuê xe tự lái ở địa chỉ số C, đường V, thành phố V, Nghệ An của anh Nguyễn Tiến T1 để thuê xe máy tự lái, Q nói với anh T1 là muốn thuê thêm xe cho bạn (trước Q đã thuê xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát: 37B2-820.44 chưa trả) do Q thanh toán tiền đầy đủ, đúng thời gian nên anh T1 tin tưởng làm hợp đồng cho thuê xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, BKS: 37B2-876.10, với giá 250.000 đồng/ngày. Sau khi thuê được xe máy của anh T1, Lê Sỹ Q đưa chiếc xe về nói với anh Hồ Bá Đ là có khách muốn cắm chiếc xe máy nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát: 37B2-876.10 với số tiền là 25.000.000 đồng. Anh Đức tin T3 và đưa tiền cho Q để đưa cho khách. Lê Sỹ Q đã sử dụng số tiền này tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi thuê được 02 chiếc xe môtô của anh Nguyễn Tiến T1, Q đã thanh toán tiền thuê xe đầy đủ, đúng hẹn cho anh T1 đến tháng 6/2023, sau đó không còn khả năng thanh toán nữa. Đến tháng 8/2023, anh T1 không còn liên lạc được với Lê Sỹ Q nên tìm đến gia đình của Q nhưng không ai biết Q đi đâu làm gì.
Kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An chiếc xe môtô YAMAHA Exciter, BKS: 37B2-876, có giá trị 22.500.000 đồng.
Hành vi thứ 6: ngày 20/6/2023, với lý do có khách cần cầm cắm xe máy, Lê Sỹ Q tiếp tục đến dịch vụ cho thuê xe máy tự lái ở địa chỉ số A, đường P, thành phố V, Nghệ An của anh Đậu Xuân P, sinh năm 1986 (Trú tại khối G, phường T). Anh P làm hợp đồng cho Lê Sỹ Q thuê chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 37B3-145.71 với giá 100 ngàn đồng/ngày, thời gian thuê 01 tuần. Sau khi thuê được xe máy, Q đưa về nói với anh Hồ Bá Đ có khách có nhu cầu cầm cắm xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, Biển kiểm soát: 37B3-145.71 với giá 15.000.000 đồng. Tin tưởng Q nên anh Đ đưa tiền cho Q để đưa cho khách. Q sử dụng số tiền này vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi thuê chiếc xe môtô của anh Đậu Xuân P, Lê Sỹ Q liên tục gia hạn và đã thanh toán tiền thuê xe cho anh P đến ngày 08/8/2023 với số tiền là 6.700.000 đồng. Khi quá hạn cho thuê xe khoảng một tháng, đến giữa tháng 9/2023, anh P liên lạc với Q để yêu cầu thanh toán và thu hồi chiếc xe đã cho thuê nhưng không liên lạc được nên lần theo định vị của xe máy H3, BKS: 37B3-145.71 được biết Q đã cầm cố chiếc xe cho anh Đ. Sau khi trình bày sự việc và xuất trình các giấy tờ của xe, hợp đồng thuê xe cho anh Đ xem. Sợ việc giữ xe lại là vi phạm pháp luật nên anh Hồ Bá Đ đã trả lại chiếc xe trên cho anh Đậu Xuân P.
Kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An, chiếc xe máy Honda Wave Alpha, BKS: 37B3-145.71, có giá trị 12.460.000 đồng.
Ngày 02/9/2024, Lê Sỹ Q đi khỏi Việt Nam sang Đu Bai thuộc nước các tiểu Vương Quốc A R thống nhất, làm công việc phụ bếp tại đặc khu của người Trung Quốc. Đến ngày 01/01/2024, Lê Sỹ Q liên lạc với gia đình và biết được Cơ quan cảnh sát điều tra đang triệu tập Q về việc liên quan đến 02 chiếc xe ôtô đã thuê của chị K. Ngày 03/01/2024, Lê Sỹ Q về Việt Nam và đến Cơ quan cảnh sát điều tra trình diện.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Sỹ Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đơn tố cáo của chị Nguyễn Thị Kiều . Ngoài ra, Lê Sỹ Q còn khai nhận đã thuê 02 chiếc xe máy BKS 37B2-820.44 và 37B2-876.10 của anh Nguyễn Tiến T1; 01 chiếc xe máy BKS: 37B3-145.71 của anh Đậu Xuân P và 01 chiếc ôtô Huynhdai I10, BKS: 37K – 044.38 của anh Ngô Xuân C sau đó đưa về cầm cố lấy tiền sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 16/9/2023, ngày 18/9/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành tạm giữ xe ôtô Toyota, BKS: 37K-083.84 tại nhà bà Nguyễn Thị V1, phường N, quận L, thành phố Hà Nội và chiếc xe ô tô KIA, biển kiểm soát: 37A- 469.28 tại nhà bà Lưu Thị Huyền T5, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Ngày 05/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh tiến hành xác minh và thu giữ đối với các tài sản Lê Sỹ Q đã thuê của anh Ngô Xuân C, Nguyễn Tiến T1, Đậu Xuân P rồi cầm cố cho anh Hồ Bá Đ để phục vụ điều tra và định giá tài sản trong tố tụng Hình sự. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave ALPHA, màu: xanh, đen, bạc, BKS: 37B2-820.44 mang tên Nguyễn Tiến T1 không thu giữ được.
Việc thu giữ và xử lý vật chứng:
- - 01 (một) Ôtô biển kiểm soát: 37K-083.84, Nhãn hiệu Toyota, số loại Veloz Cross W10LE-LBSFF, màu sơn: trắng. Số máy: 2NRX919624. Số khung: MHFAB1BY4N3021922 mang tên chủ sở hữu Nguyễn Thị Kiều . Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị K; 01 (một) Ô tô biển kiểm soát: 37A-469.28, Nhãn hiệu KIA, số loại Cerato 16GAT, màu sơn: trắng, Số máy: G4FGJH602220, Số khung: RNYYE41A6JC132074, mang tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị V1 (sinh năm 1981 trú tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An). Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị V1; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huynhdai I10, màu sơn: trắng, biển kiểm soát: 37K - 044.38, số máy: G4LANM113747, số khung: RLUUB351CBNN009637 mang tên Hoàng Thị Nhật L1. Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Ngô Xuân C; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda WAVE ALPHA, màu sơn: xanh, đen, bạc, biển kiểm soát: 37B3-145.71. Số máy: JA39E2468084, số khung: RLHJA3927MY443888. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Đậu Xuân P; 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn: đen. Số máy: G3D4E694829, số khung: 0610JY667303. Biển kiểm soát: 37B2-876.10. Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Tiến T1.
Những tài liệu này hiện được bảo quản kèm hồ sơ vụ án.
- - 01 (một) Hợp đồng cho Thuê xe của Trung tâm cho thuê xe tự lái Công Thành đối với xe ô tô nhãn hiệu Huynhdai I10, màu sơn: trắng, biển kiểm soát: 37K - 044.38, bên thuê là Lê Sỹ Q ngày 08/4/2023 và Biên bản cam kết; 01 (một) Hợp đồng cho Thuê xe của hộ kinh doanh Nguyễn Thị K đối với Ô tô biển kiểm soát: 37K-083.84, Nhãn hiệu Toyota, số loại Veloz Cross W10LE-LBSFF, màu sơn: trắng. Số máy: 2NRX919624. Số khung: MHFAB1BY4N3021922, bên thuê là Lê Sỹ Q ngày 11/5/2023; 01 (một) Hợp đồng cho Thuê xe của hộ kinh doanh Nguyễn Thị K đối với Ôtô biển kiểm soát: 37A-469.28, Nhãn hiệu KIA, số loại Cerato 16GAT, màu sơn: trắng, Số máy: G4FGJH602220, Số khung: RNYYE41A6JC132074, mang tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị V1, bên thuê là Lê Sỹ Q ngày 11/5/2023: 01 (một) Hợp đồng cho Thuê xe máy lái cơ sở Phương T6, đại diện bên cho thuê là ông Đậu Xuân P đối với xe máy nhãn hiệu Honda WAVE ALPHA, màu sơn: xanh, đen, bạc, biển kiểm soát: 37B3-145.71. Số máy: JA39E2468084, số khung: RLHJA3927MY443888, bên thuê là Lê Sỹ Q ngày 20/6/2023; 01 (một) Hợp đồng cho Thuê xe máy tự lái, đại diện bên cho thuê là ông Nguyễn Tiến T1 đối với xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn: đen. Số máy: G3D4E694829, số khung: 0610JY667303. Biển kiểm soát: 37B2-876.10, bên thuê là Lê Sỹ Q ngày 12/4/2023; 01 (một) Hợp đồng cho Thuê xe mô tô tự lái, đại diện bên cho thuê là ông Nguyễn Tiến T1 đối với Xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, biển kiểm soát: 37B2-820.44, bên thuê là Lê Sỹ Q ngày 11/3/2023; 01 (một) tờ phiếu cầm đồ của dịch vụ cầm đồ Đức Mai, đề ngày 20/6/2023, nội dung: A.Q cầm xe máy Wave 37B3-14571, có chữ ký xác nhận của Lê Sỹ Q và Trịnh Thị M và 01(một) tờ bản sao; 01 (một) tờ phiếu cầm đồ của dịch vụ cầm đồ Đức Mai, đề ngày 20/6/2023, nội dụng: A.Q cầm xe máy EX, BS: 37B2-876.10, có chữ ký xác nhận của Lê Sỹ Q và Trịnh Thị M và 01(một) tờ bản sao; 01 (một) hộ chiếu, số: P02571287 mang tên Lê Sỹ Q; 01 (một) tờ giấy vay tiền, đề ngày 21/04/2023 có chữ ký xác nhận của Lê Sỹ Q và Nguyễn Thành C1; 01 (một) tờ giấy vay tiền bản in đề ngày 2/8/2023, có chữ ký xác nhận của Lê Sỹ Q.
Những vật chứng được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự: 01 (một) biển số 37A-429.49, hình chữ nhật, có kích thước 20,5cm x 28cm; 01 (một) biển số 37A-429.49, hình chữ nhật, có kích thước 12cm x 47,5cm.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Wave alpha, biển kiểm soát: 37B2-820.44 của anh Nguyễn Tiến T1. Sau khi thuê xe, Lê Sỹ Q đã cắm cho Trần Thị H2, chủ dịch vụ cầm đồ Đại Cương lấy 7 triệu đồng. Theo chị Trần Thị H2 trình bày đã trả chiếc xe máy này cho người bạn của Q (không biết lai lịch nhân thân) vào khoảng tháng 5/2023. Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe này nên đã có thông báo số truy tìm số 4592 ngày 08/8/2024 gửi Cục C3, C08 Bộ C4 và Công an các tỉnh, huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn toàn quốc nhưng đến nay chưa có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Tiến T1 là người đã cho Lê Sỹ Q thuê 02 chiếc xe máy Biển kiểm soát 37B2-820.44 và 37B2-876.10. Anh Nguyễn Tiến T1 yêu cầu Lê Sỹ Q bồi thường giá trị chiếc xe máy BKS: 37B2-820.44 không thu hồi được là: 8.900.000 đồng.
Anh Ngô Xuân C là người đã cho Lê Sỹ Q thuê chiếc xe ôtô Huynhdai I10, BKS: 37K - 044.38. Anh Ngô Xuân C yêu cầu Lê Sỹ Q bồi thường số tiền 10 triệu đồng vì trong quá trình thuê xe đã làm hư hỏng, móc méo ở cánh cửa xe và đèn hậu. Lê Sỹ Q đã tác động gia đình bồi thường số tiền trên cho bị hại nhằm khắc phục hậu quả. Anh Ngô Xuân C không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Chị Nguyễn Thị K và anh Đậu Xuân P là người đã cho Lê Sỹ Q thuê xe ôtô KIA- CERATO BKS 37A-469.28; xe ôtô Toyota-Veloz Cross, BKS 37K-08384 và xe máy Honda WAVE ALPHA, BKS: 37B3-145.71. Chị K và anh P đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự.
Anh Nguyễn Thành C1 là người đã cho Lê Sỹ Q vay số tiền 200.000.000 đồng (Cầm cố chiếc xe ôtô KIA- CERATO BKS 37A-469.28, mang tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị V1). Anh Nguyễn Thành C1 yêu cầu Lê Sỹ Q phải bồi thường lại số tiền 200.000.000 đồng.
Anh Hà Quang D là người đã cho Lê Sỹ Q vay số tiền 160.000.000 đồng (Cầm cố chiếc xe ôtô TOYOTA, VELOZ CROSS BKS 37K-083.84 mang tên Nguyễn Thị K). Anh Hà Quang D yêu cầu Lê Sỹ Q phải bồi thường lại số tiền 160.000.000 đồng.
Anh Hồ Bá Đ là người đã tin tưởng cho Lê Sỹ Q cầm cố những chiếc xe gồm: Xe ôtô Huynhdai I10, BKS: 37K - 044.38 vay số tiền 70.000.000 đồng; Xe máy Honda WAVE ALPHA, BKS: 37B3-145.71 vay số tiền 15.000.000 đồng; Xe máy YAMAHA, EXCITER, BKS 37B2-876.10 vay số tiền 25.000.000 đồng. Anh Hồ Bá Đ yêu cầu Lê Sỹ Q phải trả lại tổng số tiền là 110.000.000 đồng.
Chị Trần Thị H2 xác định số tiền Lê Sỹ Q còn thiếu là 3.500.000 đồng.
Cáo trạng số 215/CT-VKS- P2 ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, đồng ý bồi thường số tiền như những người bị hại và người liên quan yêu cầu; những người bị hại (anh Nguyễn Tiến T1), người liên quan (anh Nguyễn Thành C1) có mặt khai thống nhất với lời khai bị cáo, đề nghị Tòa án buộc bị cáo bồi thường như đã yêu cầu và áp dụng hình phạt theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng, tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm a, khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 13 đến 14 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại và người liên quan theo yêu cầu; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; người bào chữa cho bị cáo vắng mặt có gửi bài bào chữa: đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa (bản tự khai, biên bản hỏi cung, bảng kê chi tiết biến động số dư trong tài khoản ngân hàng của bị cáo, lời khai của người bị hại, người liên quan), có đủ căn cứ kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Sỹ Q đã đến các cơ sở cho thuê xe tự lái, nói dối là thuê để phục vụ đi lại của cá nhân, sau đó mang đến các hiệu cầm đồ trên địa bàn thành phố V thế chấp để chiếm đoạt tài sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2023, Lê Sỹ Q đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại, cụ thể như sau:
Hành vi thứ nhất: Ngày 11/3/2023, Lê Sỹ Q đến cửa hàng dịch vụ cho thuê xe máy tự lái của anh Nguyễn Tiến T1, địa chỉ số C, đường V, thành phố V, thuê xe máy Honda Wave ALPHA, BKS: 37B2-820.44 rồi đưa đến hiệu cầm đồ Đại Cương do chị Trần Thị H2 làm chủ cầm cố vay số tiền 7.000.000 đồng. Chiếc xe máy BKS: 37B2-820.44 có giá trị 8.900.000 đồng.
Hành vi thứ hai: Ngày 8/4/2023, Lê Sỹ Q đến cửa hàng dịch vụ cho thuê xe tự lái Công Thành của anh Ngô Xuân C, địa chỉ số B, đường T, thành phố V, Nghệ An, thuê chiếc xe ôtô Huynhdai I10, BKS: 37K–044.38 rồi đưa đến cầm cố cho anh Hồ Bá Đ vay số tiền 70.000.000 đồng. Chiếc xe ôtô BKS: 37K-044.38 có giá trị 387.000.000 đồng.
Hành vi thứ ba: Ngày 12/4/2023, Lê Sỹ Q đến cửa hàng dịch vụ cho thuê xe tự lái của chị Nguyễn Thị K, địa chỉ số B, đường N, phường H, thành phố V, Nghệ An, thuê chiếc xe ôtô KIA Cerato, BKS 37A - 469.28 rồi đưa đến cầm cố cho anh Nguyễn Thành C1 vay số tiền 200.000.000 đồng. Chiếc xe ôtô BKS 37A - 469.28 có giá trị 360.000.000 đồng.
Hành vi thứ tư: Ngày 11/5/2023, Lê Sỹ Q tiếp tục đến cửa hàng cho thuê xe tự lái của chị Nguyễn Thị K thuê chiếc xe ôtô Toyota - Veloz Cross, BKS 37K-08384 rồi đưa đến cầm cố cho anh Hà Quang D vay số tiền 160.000.000 đồng. Chiếc xe ôtô BKS 37K-08384 có giá trị là 580.000.000 đồng.
Hành vi thứ năm: Ngày 11/5/2023, Lê Sỹ Q tiếp tục đến cửa hàng cho thuê xe tự lái của anh Nguyễn Tiến T1, địa chỉ số C, đường V, thành phố V, thuê chiếc xe máy YAMAHA EXCITER, BKS: 37B2-876.10 rồi đưa đến cầm cố cho anh Hồ Bá Đ vay số tiền 25.000.000 đồng. Chiếc xe máy BKS 37B2-876.10 có giá trị là 22.500.000 đồng.
Hành vi thứ sáu: Ngày 20/6/2023, Lê Sỹ Q đến cửa hàng cho thuê xe tự lái của anh Đậu Xuân P, địa chỉ số A, đường P, thành phố V, Nghệ An) thuê chiếc xe máy H3, BKS: 37B3-145.71 rồi tiếp tục đưa đến cầm cố cho anh Hồ Bá Đ vay số tiền 15.000.000 đồng. Chiếc xe máy BKS 37B3-145.71 có giá trị là 22.500.000 đồng.
Như vậy, Lê Sỹ Q đã thông qua các hợp đồng thuê tài sản để chiếm đoạt, đưa đi nơi khác cầm cố lấy tiền tiêu xài với tổng số tài sản giá trị 1.370.860.000 đồng là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[2.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thực hiện 06 hành vi lừa đảo đối với 04 người, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[2.2]. Tình tiết giảm nhẹ : Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo; khi biết Cơ quan điều tra triệu tập liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo đã từ nước ngoài về Việt Nam đến Cơ quan điều tra trình diện khai báo. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại, bị cáo chưa bồi thường cho các bị hại và người liên quan. Việc xử lý tài sản là do cơ quan điều tra thực hiện theo quy định pháp luật, trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Số tiền 10.000.000 đồng bồi thường cho anh Ngô Xuân C là tiền sửa xe. Vì vậy, không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[3] Tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh, an toàn cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có mức hình phạt cao. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội. Đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có căn cứ áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Xử lý vật chứng: Các vật chứng đang lưu giữ tại hồ sơ (trừ Hộ chiếu của bị cáo) tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án. Tịch thu tiêu hủy 02 biển số 37A-429.49.
[6] Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho những người bị hại và người liên quan như yêu cầu của họ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa.
[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
[8] Tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Sỹ Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Sỹ Q 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về dân sự:
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến T1 số tiền 8.900.000 đồng (tạm triệu chín trăm ngàn đồng).
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Trần Thị H2 số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hồ Bá Đ số tiền 110.000.000 (Một trăm mười triệu đồng).
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Thành C1 số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
- - Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hà Quang D số tiền trên. 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 biển số 37A-429.49. Đặc điểm cụ thể, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 21, 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Sỹ Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Sỹ Q phải chịu 23.256.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm năm mươi sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Le Sy Quang lừa đảo chiếm đoạt tài sản
