TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 217/2024/HSPT
Ngày: 27-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Ông Đặng Văn Quyết
Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Bà Phan Thị Diễm Hạnh- Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 27/11/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 52/TLPT-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn B, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B và bị hại Công ty TNHH T7 do ông Phạm Văn Đ- chức vụ: Giám đốc làm đại diện đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn B, sinh năm 1967 tại tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Tổ E, khu D, phường C, TP C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1932 và bà Bùi Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn), có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/01/2022, Chủ tịch UBND huyện S đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03 đối với Nguyễn Văn B về hành vi Chuyển đất rừng sản xuất là đất trồng rừng sang đất phi nông nghiệp khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép với mức phạt 5.000.000đ, B đã chấp hành xong Quyết định phạt tiền này.
Ngày 28/2/2022, Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang quyết định xử phạt vi phạm hành chính về đất đai đối với Nguyễn Văn B về hành vi tự ý đổ đất đá làm thay đổi hiện trạng, làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép với mức phạt 3.500.000đ, B đã chấp hành xong Quyết định phạt tiền này.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
Bị hại có kháng cáo: Công ty TNHH T7, do ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1982, chức vụ: Giám đốc làm đại diện. (có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn L- Luật sư, Văn phòng L1, địa chỉ: Số C, N, X, TP B, tỉnh Bắc Giang (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. - Ông Nguyễn Bá H1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Dương Văn H2, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bà Đỗ Thị T3, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: số E ngách D H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội
- Người làm chứng:
- Ông Giáp Văn T4, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Hoàng Văn T5, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. - Ông Hoàng Minh C, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. - Ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Cẩy, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - Ông Phạm Văn C1, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty Cổ phần Đ3 (gọi tắt là Công ty Đ3) được thành lập vào tháng 8 năm 2021 do Nguyễn Văn B làm Giám đốc và có 03 cổ đông là Hoàng Văn T6, Hoàng Văn T5, Giáp Văn T4. Công ty Đ3 có thuê lại bãi đất của anh Dương Văn H2, sinh năm 1972 ở địa điểm Cầu N, Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang để làm bãi tập kết đất, sàng lọc đất, lấy cát đổ bê tông. Công ty Đ3 đã tận dụng mua lại đất đổ làm đường tỉnh lộ 291, thị trấn T, huyện S để về sàng lọc lấy cát đổ bê tông cho các công trình xây dựng. Ngày 12/01/2022, Công ty Đ3 do ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1967, trú tại Tổ E, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, làm giám đốc đã ký hợp đồng số 001/HĐM với nội dung mua bán cát xây dựng với Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 (gọi tắt là Công ty T7) do anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1982, trú tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là Giám đốc. Theo thỏa thuận Công ty Đ3 có trách nhiệm sản suất cát đổ bê tông, Công ty T7 có trách nhiệm mua, tiêu thụ số cát mà công ty Đ3 sản xuất ra (Công ty Đ3 sản xuất ra bao nhiêu thì Công ty T7 mua hết) với giá 180.000đ/m3, trong thời hạn là 05 năm (thời điểm từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/01/2027). Công ty T7 có trách nhiệm ứng trước 70% giá trị tiền cát cho Công ty Đ3, còn 30% Công ty T7 sẽ thực hiện việc đối trừ với nghĩa vụ trả nợ tiền xăng dầu, mà Công ty Đ4 đã mua từ một bên đối tác thứ 3 và cung cấp cho Công ty Đ3.
Quá trình thực hiện hợp đồng trên, từ ngày 13/01/2022 đến ngày 15/01/2022 Công ty Đ3 đã bán cho Công ty T7 3.270 m3 cát đổ bê tông, số cát trên đã được vận chuyển đến bãi tập kết cát thuộc Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S do Công ty Đ3 mượn cho Công ty T7. Quá trình mua bán, Công ty T7 cử anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1967, trú tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là chú ruột của anh Phạm Văn Đ- Giám đốc) thực hiện việc kiểm tra, giám sát, tuy nhiên anh Đ1 không trực tiếp kiểm đếm số lượng xe, khối lượng cát, mà chỉ xác nhận theo giấy tờ do Công ty Đ3 cung cấp. Ngày 16/01/2022 đại diện hai bên Công ty đã tiến hành đối chiếu công nợ, theo giấy tờ của Công ty Đ3 thể hiện đã bán cho Công ty T7, với tổng số 3.270m³ cát đổ bê tông, số lượng cát trên được vận chuyển bằng 192 lượt xe ô tô và Công ty T7 phải thanh toán trả cho Công ty Đ3 số tiền là 530.830.760đ (trong đó có số tiền 310.000.000đ là tiền chuyển khoản qua tài khoản tại ngân hàng, số tiền còn lại được thanh toán bằng tiền dầu do Công ty T7 cung cấp cho Công ty Đ3 là 9.922 lít và 03 thùng nhớt). Sau khi hai bên thực hiện việc đối chiếu công nợ thanh toán xong, Công ty T7 tiếp tục cử anh Phạm Văn C1, sinh năm 1982, trú tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm bảo vệ, trông coi tại bãi tập kết cát ở địa chỉ trên từ ngày 16/01/2022 đến ngày 26/01/2022 (tức ngày 24/12 âm lịch). Tuy nhiên anh Phạm Văn C1 bỏ về quê ăn tết nguyên đán nên bãi tập kết cát không có ai trông coi, bảo vệ.
Ngày 16/01/2022, anh Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S và anh Nguyễn Bá H1, sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến trụ sở làm việc của Công ty Đ3 đặt tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T để đòi tiền do Công ty Đ3 nợ tiền công máy xúc và tiền thuê xe ô tô. Do không có tiền trả nợ và biết việc Công ty T7 gần tết không có ai trông coi bãi cát nên Nguyễn Văn B đã nảy sinh ý định lấy lại cát của Công ty T7 để gán nợ trả tiền cho anh T1 và anh H1. Để thực hiện ý định trên, Bích tự thỏa thuận với T1 và H1 là sẽ trả nợ bằng cát, T1 và H1 đồng ý và hẹn lấy cát vào ngày 27/01/2022 với giá 200.000đ/m³. Như đã thỏa thuận sáng ngày 27/01/2022, T1 và H1 cho máy xúc và xe ô tô đến chở vận chuyển cát tại bãi cát gần khu C thuộc Tổ dân phố Đ, thị trấn T Tử đem đi bán lấy tiền trừ nợ, quá trình lấy cát Nguyễn Văn B nhờ anh Hoàng Minh C, sinh năm 1966, trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S theo dõi, ghi lại lượt xe chở cát ra khỏi bãi cát, bản thân B còn trực tiếp đi theo một số xe cát để đo khối lượng cát bán ra. Sau khi lấy hết số cát tại bãi cát của Công ty T7, theo sổ sách ghi chép, hai bên Nguyễn Văn B và anh T1 và anh H1 đã chốt sổ tổng số cát do Nguyễn Văn B lấy gán trả nợ cho anh T1 và anh H1 là 815,5m³. Cùng ngày, Nguyễn Văn B còn cho Phạm Văn T2, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang lấy tại bãi cát 02 xe ô tô, bán được tổng số tiền 6.000.000đ, đồng thời cho Dương Văn H2, sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã B, huyện L lấy hết số cát nền còn lại đem đi sàng lọc bán được số tiền 12.000.000đ để lấy tiền mua dây điện thắp sáng cho Công ty Đ3 và lấy tiền ăn tết. Đến ngày 10/3/2022, anh Phạm Văn Đ làm Giám đốc công ty phát hiện số cát trên bị mất, anh đã làm đơn trình báo với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để điều tra xử lý theo quy định, đến ngày 20/7/2022 anh làm đơn kiến nghị khởi tố đối với Nguyễn Văn B có năm sinh và địa chỉ nêu trên. Sau khi nhận tin báo trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thụ lý, để giải quyết tin báo theo quy định.
Ngày 10/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B định giá số lượng cát theo Hợp đồng mua bán cát xây dựng số 001 ngày 12/01/2022 là tài sản do Nguyễn Văn B đã trộm cắp.
Tại Kết luận số 104/KL-HĐ, ngày 11/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành Phố B, xác định 3.270m³ x với đơn giá 180.000đ/m³ = 588.600.000 đồng.
Ngày 05/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Công văn số 2743/CV-CSHS đề nghị Phòng PC08- Công an tỉnh B tra cứu cung cấp thông tin chủ sở hữu đối với các xe ô tô biển kiểm soát 20C- 101.94; 12- 062.31; 98C- 257.40; 14C- 026.90; 29H- 215. 29; 34C-102.94; 20C- 130.08; 98C-004.77; 98H- 017.75. Ngày 07/7/2022, Phòng C2 Công an tỉnh B có các phiếu trả lời đối với chủ sở hữu của 09 chiếc xe ô tô nêu trên trong đó có 01 xe ô tô của Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1978 địa chỉ Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S biển số 98H- 017.75 và 01 số xe ô tô khác có trong hồ sơ vụ án.
Cùng ngày 05/7/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Công văn số 2741/CV- CSHS đề nghị Ngân hàng A- Chi nhánh B1 cung cấp thông tin số tài khoản của Nguyễn Văn B. Ngày 08/7/2022 Ngân hàng N2 chinh nhánh huyện S- Bắc Giang II có Văn bản số 650 trả lời. Khách hàng Nguyễn Văn B, sinh năm 1967 địa chỉ tạm trú tại cư trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang, có số tài khoản: 2509205318649 mở tại A chi nhánh huyện S- Bắc Giang II và có sao kê giao dịch của tài khoản từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/01/2022 (có phụ lục kèm theo).
Cùng ngày 05/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Công văn số 2740/CV-CSHS đề nghị Ngân hàng T8- Chi nhánh B1 cung cấp thông tin số tài khoản của Phạm Văn Đ- Giám đốc Công ty T7. Ngày 08/7/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần K, có văn bản số 398 trả lời: Khách hàng Phạm Văn Đ, sinh năm 1982 có địa chỉ trên có số tài khoản: 19034406728016 mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần K- Chi nhánh B1 và có sao kê giao dịch của tài khoản từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/01/2022 (có phụ lục kèm theo)
Ngày 16/7/2022, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone 8 có lắp số sim 0328.088.859 của Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S. Kết quả kiểm tra phát hiện tin nhắn điện thoại trên mục có lưu tên “Bích cát” có số điện thoại “0967.581.xxx” phát hiện ngày 29/01/2022 B có gửi tin nhắn và hình ảnh liên quan đến việc B thống kê, ghi chép đầu xe ô tô, khối lượng, tiền trả cho anh T1 và anh H1 bằng cát. Ngày 30/01/2022, anh T1 nhắn tin lại chốt số tiền đã nhận và tiền B còn nợ anh T1 và anh H1. Ngoài ra phát hiện hình ảnh chụp qua Zalo ghi ngày 27/01/2022 ghi biển số xe, số lượng xe vận chuyển cát và tổng số khối cát lấy tại bãi tập kết cát của Công ty T7 là 815,5 m³ x 200.000đ/1 m³ = 163.100.000 đồng.
Ngày 30/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành thu giữ đồ vật tài liệu của Nguyễn Văn B là 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo V2025 và 01 (một) quyền sổ A5, bên trong có nhiều chữ số, chữ viết, B xác nhận quyển sổ thu giữ này B có sử dụng ghi chép lại số lượng xe tải vận chuyển và số lượng cát đã lấy của Công ty T7 để gán trả nợ cho anh T1 và anh H1, ở mục Zalo có hình ảnh anh T1 gửi cho B số lượng xe và chốt số cát trả cho anh T1 và anh H1. Tiến hành kiểm tra máy điện thoại của Nguyễn Văn B phát hiện hình ảnh do bị can B chụp lại liên quan đến việc theo dõi số xe và khối lượng cát trả cho anh T1 và anh H1, Cơ quan điều tra đã chụp lại và in ra tờ giấy A4 đưa vào hồ sơ vụ án, tiến hành kiểm tra quyển sổ thu giữ phát hiện ghi nội dung ngày 28/01/2022 ghi lượt xe cát, xe mà Dương Văn H2 chở cát nền lẫn đất đi rửa, sàng để bán mua dây điện cho Công ty Đ3, sau khi kiểm tra Cơ quan điều tra đã niêm phong lại toàn bộ số đồ vật trên theo quy định.
Ngày 30/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc.
Hiện trường xảy ra vụ việc tại Tổ dân phố Đ (giáp tổ dân phố Đ), thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang, xác định bãi tập kết cát của Công ty T7 là trên một bãi đất trống, nền đất, bên trên có một lớp cát mầu vàng (lớp cát mỏng), bãi đất trống có diện tích 4.000.000m², thuộc sở hữu của anh H3, sinh năm 1972 ở thị trấn C, huyện L, bãi đất trống nằm sát đường đi vào nhà máy N3, có hai lối vào bãi đất trống nhìn từ ngoài vào. Tại trung tâm bãi đất trống quay về hướng tây giáp với đường nhựa đi vào nhà máy N3, phía đông và phía nam giáp với đồi, núi và cây rừng, phía bắc giáp với nhà anh Hoàng Văn Đ2, sinh năm 1975 ở Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, hiện tại bãi đất này không có ai trông coi hay sử dụng vào mục đích gì, ngoài ra không phát hiện gì khác.
Ngày 02/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã quyết định trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B, giám định chữ viết, chữ số thu giữ mẫu chữ viết của Nguyễn Văn B và chữ viết ghi trong quyền sổ A5 đã thu giữ bên trong có ghi nhiều chữ viết, chữ số. Tại Kết luận giám định số 1398, ngày 15/8/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận chữ viết trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2; ký hiệu A4; ký hiệu A8, so với chữ ký cùng dạng, chữ viết của Nguyễn Văn B trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1; M2; M3) là do cùng một người ký, viết ra. Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A9- trừ chữ viết, chữ ký đã kết luận ở mục 1) so với chữ viết của Nguyễn Văn B trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1; M2; M3) là không phải do cùng một người viết ra.
Căn cứ vào kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, xác định 01m³ cát có trị giá 180.000đ, căn cứ vào số cát do Nguyễn Văn B lấy để gán trả nợ cho anh Nguyễn Tiến T1 và anh Nguyễn Bá H1 được ghi chép trong sổ theo dõi ngày 27/01/2022 có số lượng cát thực tế là 815,5 m³ x 180.000đ = 146.790.000đ là giá trị tài sản bị chiếm đoạt.
Ngày 15/8/2022, Phòng K1 Công an tỉnh B đã sơ kết điều tra vụ án và có văn bản số 3765/CV-CSHS đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang ra quyết định chuyền vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 15/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 28/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động ban hành Cáo trạng số 23/CT-VKS truy tố bị can Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng cùng hồ sơ vụ án được chuyển đến Tòa án nhân dân huyện Sơn Động vào ngày 04/5/2023. Ngày 29/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Động đã tiến hành xét xử vụ án trên.
Tại Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 01/2023/HSST-QĐ ngày 31/8/2023 của Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Động về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với vụ án Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động cần xem xét, làm rõ thêm chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được.
Kết quả điều tra bổ sung như sau:
Thứ nhất: Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành làm việc, ghi lời khai của Nguyễn Danh S, sinh năm 1975, địa chỉ thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang là Giám đốc Công ty T9 để xác định nội dung đã mua 02 xe cát của Phạm Văn T2 có khối lượng cát mua bao nhiêu m³ cát. Quá trình lấy lời khai Nguyễn Danh S vẫn giữ nguyên lời khai của mình xác định khi mua cát của Phạm Văn T2, S chỉ mua 02 xe với giá 6.000.000đ, không đo đếm khối lượng cụ thể của từng xe, nên không biết là khối lượng là bao nhiêu, số cát trên sau khi mua đã bán hết, hiện tại không còn lưu trữ, tồn tại tại Công ty. Đã xác định lại tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Thứ hai: Đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành hỏi cung bị can Nguyễn Văn B để làm rõ việc B đã cho Phạm Văn T2 lấy 02 xe cát và cho Dương Văn H2 lấy cát nền, lẫn đất sàng lọc bán. Nguyễn Văn B thừa nhận sau khi gán cát nợ cho H1 và T1, B đã cho máy xúc và xe của Công ty Đ3 chở cát sang bãi cát của vợ chồng anh Dương Văn H2 và chị Nguyễn Thị N1 sàng lọc, được bao nhiêu do vợ chồng H2 liên hệ bán cát, sau khi bán cát B nhận tiền của vợ H2 là chị N1 được 12 triệu đồng và xác nhận cho T2 lấy 02 xe cát, không rõ là bao nhiêu khối, chỉ nghe T2 nói đem đi bán được 6.000.000đ. Bích xác định số cát chuyển cho H2 sàng lọc, vợ H2 liên hệ bán được 12 triệu đồng với giá bán 240.000đ/01m³, tương đương với 50m³ cát. Hành vi của Nguyễn Văn B lấy cát cho Dương Văn H2 sàng lọc và cho Phạm Văn T2 lấy 02 xe cát đem đi bán cùng ngày 27/01/2022 đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Ngày 02/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã có yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện S định giá số cát do Nguyễn Văn B cho anh H2 sàng lọc và cho Phạm Văn T2 lấy 02 xe theo lời khai của bị can B và lời khai của những người liên quan khai khoảng 118m³ cát đổ bê tông, chưa sử dụng. Ngày 08/10/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện S đã có văn bản số 36 trả lời do không xác định được khối lượng cát cụ thể nên Hội đồng định giá tài sản huyện S không định giá được cụ thể số cát theo yêu cầu định giá. Căn cứ số cát do bị can B cho T2 và H2 lấy đã bán có giá trị thực tế thành tiền là 18.000.000đ. Nên cần xác định bị can B có hành vi chiếm đoạt thêm số cát của Công ty T7 với số tiền là 18.000.000đ + với số tiền cát đã xác định được theo khối lượng mét khối là 146.790.000₫ bằng tổng số tiền là 164.790.000đ. Do đó bị can Nguyễn Văn B phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền chiếm đoạt đã chứng minh được là 164.790.000₫.
Đối với số cát 3.270 m³ do Phạm Văn Đ đã trình báo bị mất trộm. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chứng minh được Nguyễn Văn B cho Phạm Bá H4 và Nguyễn Tiến T1 lấy cát gán nợ là 815,5m³, và số cát B cho Phạm Văn T2 và Dương Văn H2 lấy không đo đếm cụ thể, bán được tổng số tiền 18.000.000đ, số cát còn lại không có căn cứ chứng minh B trộm cắp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với số cát do Nguyễn Văn B cho T1, H4, T2 và vợ H2 bán, quá trình điều tra bổ sung xác định số cát trên do H4, T1, T2, H2 bán cho nhiều người ở nhiều nơi khác nhau không rõ địa chỉ, không xác định được thời gian cụ thể, người mua, mặt khác do thời gian đã lâu, số lượng cát được B lấy không còn nên không có căn cứ để truy tìm.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn B phải chịu trách nhiệm hình sự về giá trị thiệt hại với số tiền 164.790.000đ. Quá trình điều tra B đã thỏa thuận bồi thường cho Công ty T7 với số tiền 150.000.000đ. B còn phải bồi thường cho Công ty T7 số tiền còn lại 14.790.000đ.
Thứ 3: Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã phối hợp với Cơ quan điều tra lấy lời khai của Dương Văn H2, Nguyễn Tiến T1, Nguyễn Bá H1 làm rõ số lượng cát lấy của Công ty T7 đem bán. Kết quả lấy lời khai đối với Nguyễn Tiến T1 và Nguyễn Bá H1 khai, toàn bộ số cát được Nguyễn Văn B gán nợ T1 và H1 đã cho lái xe chở đi bán ở nhiều nơi trên địa bàn huyện S và huyện L lấy tiền chia nhau, do đã lâu không nhớ là đã bán cát cho ai, khối lượng là bao nhiêu, số cát này hiện nay các anh đã bán hết không còn lưu giữ lại.
Thứ 4: Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã phối hợp với Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai của Nguyễn Văn B và Đỗ Thị T3 đều khai nhận T3 là người nấu cơm cho Công ty Đ3, ngày 27/01/2022, T3 có mặt tại bãi cát của Công ty Đ3 ghi hộ B sổ sách theo dõi xe lấy cát ở bãi, sau đó lại đi nấu cơm. Việc B mua bán cát cho Công ty T7 như thế nào T3 không biết, mặt khác B cũng thừa nhận T3 không biết số cát trên đã bán cho Công ty T7.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án anh Phạm Văn Đ là đại diện Công ty T7 là bị hại trong vụ án yêu cầu Nguyễn Văn B phải bồi thường số tiền 530.830.760 đồng theo sổ sách ký kết, giao nhận cát giữa 02 Công ty Đ3 và Công ty T7. Nguyễn Văn B nhất trí bồi thường lại toàn bộ số tiền trên. Do điều kiện kinh tế khó khăn đến nay B bồi thường được số tiền 150.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho Công ty T7. Quá trình xét xử vụ án B không nhất trí bồi thường theo yêu cầu của Công ty T7, Bích chỉ bồi thường số cát đã trộm cắp theo giá trị thiệt hại xác định được là 146.790.000đ và số tiền B đã cho vợ chồng H2 bán cát nền lẫn đất và cho Phạm Văn T2 lấy hai xe cát bán được tổng số tiền 18.000.000đ bằng tổng số tiền là 164.790.000đ. Đối với số tiền 6.000.000₫ do T2 bán cát do B cho lấy B yêu cầu T2 phải trả Bích số tiền này.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 01 quyển sổ A5 (nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa có dòng chữ Notebook Business A5) bên trong có chữ số, chữ viết, 01 (một) điện thoại di động Vivo V2025, mầu đen, có số Imei 866243056961716, không có thẻ sim điện thoại cũ đã qua sử dụng. Toàn bộ số vật chứng trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S chuyển kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Động để xử lý theo quy định.
Đối với số cát mà Phạm Văn Đ đã trình báo bị mất là 3.270m³ Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chứng minh được Nguyễn Văn B cho H1 và T1 lấy cát gán nợ là 815,5 m³, đối với số cát còn lại không có căn cứ truy tìm.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
- Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (Hai) năm năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Phạt tiền đối với Nguyễn Văn B số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng chẵn).
- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Văn B phải bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 số tiền 164.790.000đ (Một trăm sáu mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Xác nhận bị cáo B đã bồi thường cho Công ty T7 150.000.000đ. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 14.790.000₫ (Mười bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B phải bồi thường thêm số tiền 816.210.000đ (Tám trăm mười sáu triệu hai trăm mười nghìn đồng).
Ngày 09/01/2024 bị cáo Nguyễn Văn B kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin được hưởng án treo.
Ngày 25/01/2024 Công ty TNHH T7 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do bản án xét xử không khách quan, vi phạm tố tụng, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo cho rằng bản án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù là nặng. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo với lý do bị cáo có nhân thân tốt, đang phải nuôi bố mẹ già và con học đại học.
Bị hại giữ nguyên kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm với các lý do: Bị hại không được nhận kết quả định giá tài sản, thực tế việc lấy lời khai của anh C1 không được thực hiện tại trụ sở Công an mà lấy lời khai tại Công ty, tuy nhiên trong biên bản ghi lời khai anh C1 lại ghi lấy lời khai tại trụ sở Công an huyện S là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Anh H1, anh T1 có biết cát là của Công ty T7 nhưng vẫn vận chuyển như vậy là bỏ lọt tội phạm; số lượng 118m³ cát anh H2 và anh T2 lấy đi chưa được định giá tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B và kháng cáo của bị hại Công ty TNHH T7, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (Hai) năm năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn B phải bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 số tiền 164.790.000đ (Một trăm sáu mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Xác nhận bị cáo B đã bồi thường cho Công ty T7 150.000.000đồng. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 14.790.000đồng (Mười bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B phải bồi thường thêm số tiền 816.210.000 đồng (Tám trăm mười sáu triệu hai trăm mười nghìn đồng).
Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Văn B và bị hại kháng cáo không được chấp nhận phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo, bị hại được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy:
+ Về tội danh: Công ty Đ3 do Nguyễn Văn B làm giám đốc đã ký hợp đồng mua bán cát xây dựng với Công ty T7 do anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1982, trú tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là Giám đốc. Theo hợp đồng trên, Công ty Đ3 đã bán cho Công ty T7 với số lượng 3.270 m³ cát đổ bê tông, số cát trên đã được vận chuyển đến bãi tập kết cát thuộc Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S do Công ty Đ3 mượn cho Công ty T7. Do không có tiền trả nợ tiền công máy súc và tiền thuê xe ô tô của anh Nguyễn Tiến T1 và anh Nguyễn Bá H1, Nguyễn Văn B biết việc Công ty T7 gần tết không có ai trông coi bãi cát nên đã nảy sinh ý định lấy lại cát của Công ty T7 để gán nợ trả tiền cho anh T1 và anh H1. Thực hiện ý định trên, trong ngày 27/01/2022, tại bãi tập kết cát của Công Ty T7 ở Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S. Nguyễn Văn B đã thực hiện hành vi cho xe ô tô vào bãi tập kết cát của Công ty T7 trộm cắp 815,5m³, ngoài ra còn cho Phạm Văn T2, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang lấy 02 xe cát bán được tổng số 6.000.000đ, cho vợ chồng Dương Văn H2, sinh năm 1972 và Nguyễn Thị N1, sinh năm 1973, đều trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S bán cát nền được 12.000.000đ, tổng số 18.000.000đ. Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác định 01m³ cát = 180.000đ, số lượng cát xác định được do B lấy trộm để gán nợ là 815,5 m³ x 180.000đ = 146.790.000đ + 18.000.000đ. Như vậy xác định bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền gây thiệt hại cho Công ty T7 là 164.790.000₫.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
+ Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để lượng hình đối với bị cáo, xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp và khoan hồng đối với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cứ và đúng quy định.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị hại thấy:
+ Về việc bỏ lọt tội phạm: Trong vụ án này còn có Nguyễn Tiến T1 và anh Nguyễn Bá H1 là người trực tiếp dùng phương tiện của mình chở số cát trên của Công ty T7. Quá trình điều tra xác định khi lấy số cát trên T1 và H1 không biết số cát trên đã bán cho Công ty T7 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với Phạm Văn T2 là người được Nguyễn Văn B cho lấy 02 xe cát của Công ty T7 đi bán được số tiền 6.000.000đ; Dương Văn H2 được B cho sàng lọc cát nền bán được 12.000.000đ. Quá trình điều tra xác định khi lấy cát T2, H2 không biết số cát trên đã được B bán cho Công ty T7 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với Đỗ Thị T3 là người liên quan trong vụ án. Quá trình điều tra xác định việc bị cáo B mua bán cát cho Công ty T7 như thế nào T3 không biết, mặt khác B cũng thừa nhận T3 không biết số cát trên đã bán cho Công ty T7. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với Giáp Văn T4, sinh năm 1981, trú tại thôn L, xã G, huyện L và anh Hoàng Văn T5, sinh năm 1993, trú tại thôn B, xã L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn là các cổ đông của công ty. Quá trình điều tra xác định những người này không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn B nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
+ Về trách nhiệm dân sự:
Công ty T7 là bị hại trong vụ án do ông Phạm Văn Đ- Giám đốc Công ty làm đại diện, quá trình điều tra phía Công ty yêu cầu Nguyễn Văn B phải bồi thường số tiền 530.830.760 đồng theo sổ sách ký kết, giao nhận cát giữa 02 Công ty Đ3 và Công ty T7. Tại phiên tòa, đại diện bị hại yêu cầu bị cáo B phải bồi thường số tiền 981.000.000₫ (3.270m³ x 300.000đ/ m³) nhưng bị cáo Nguyễn Văn B không nhất trí mà chỉ đồng ý bồi thường 164.790.000đ (trong đó đã bồi thường 150.000.000đ và nhất trí bồi thường thêm 14.790.000₫).
Quá trình điều tra xác định giá trị tài sản (cát) mà bị cáo B trộm cắp của Công ty trị giá 164.790.000đ, bị cáo B đã tự nguyện bồi thường cho Công ty T7 số tiền 150.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 14.790.000₫.
Phía Công ty T7 không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại. Do đó, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường 164.790.000đ trong tổng số 981.000.000₫ mà bị hại yêu cầu, không chấp nhận số tiền còn lại là 981.000.000₫ - 164.790.000₫ = 816.210.000đ.
Đối với số tiền mà Nguyễn Tiến T1, Nguyễn Bá H1, Phạm Văn T2, Dương Văn H2 bán cát mà có, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu giữ được. Bị cáo B đã tự nguyện bồi thường cho bị hại. Bị cáo, bị hại và những người liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B và kháng cáo của bị hại Công ty TNHH T7, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (Hai) năm năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/11/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn B phải bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 số tiền 164.790.000đ (Một trăm sáu mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Xác nhận bị cáo B đã bồi thường cho Công ty T7 số tiền 150.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 14.790.000đ (Mười bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B phải bồi thường thêm số tiền 816.210.000₫ (Tám trăm mười sáu triệu hai trăm mười nghìn đồng).
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn B, bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Đặng Văn Quyết Hoàng Thị Hải Hường | Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 217/2024/HSPT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 217/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản
