Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 217/2024/HSST

Ngày: 31-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lý

Bà Tô Thị Lành

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 206/2024/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2024/QĐXXST-HS ngày 15-10-2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN THÀNH Q, sinh ngày 21/12/1995 tại Gia Lai; nơi cư trú: Tổ C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (đã chết) và bà Trương Thị Kim H, sinh năm 1971; bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 1992; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Thành Q bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20-01-2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại:

Chị Đào Thị Mỹ T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Trương Thị Kim H, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1987; địa chỉ: Số C H, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:

Nguyễn Thành Q và bà Đào Thị Mỹ T1 (sinh năm 1982, trú tại: thôn A, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội) có mối quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2020. Ngày 20/12/2023, chị T1 đến thành phố P, tỉnh Gia Lai chơi và thuê phòng số 305 Khách sạn C, tại số B đường H, Tổ B, phuờng la K, thành phố P, tinh G để ở. Quá trình bà T1 ở thành phố P, Q nhiều lần đến phòng khách sạn của bà T1 chơi nên biết bà T1 mang theo nhiều tiền, cất tiền ở vali đựng quần áo. Khoảng 16 giờ ngày 01/01/2024, Q đến phòng của bà T1 chơi rồi ngủ lại. Đến khoảng 08 giờ ngày 02/01/2024, Q thức dậy thấy bà T1 vẫn đang ngủ, vali của bà T1 không khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà T1. Q đến mở vali của bà T1, lấy số tiền 64.600.000 đồng, cất giấu trong túi quần đang mặc rồi bỏ đi khỏi khách sạn. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, bà T1 thức dậy thì không thấy Q, kiểm tra vali thì phát hiện bị mất tiền nên trên bà T1 đến Công an phường I trình báo .

Ngày 03/01/2024, Công an phường I mời Nguyễn Thành Q đến làm việc, nhận thấy hành vi của mình không thể chối cãi nên Q đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với số tiền Quân đã trộm cắp của bà T1, Q đã sử dụng 1.500.000 đồng mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen; số còn lại Q đã tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh đen theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Thành Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành Q có biểu hiện thần kinh không ổn định, đi lang thang, nói năng linh tinh. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đưa Nguyễn Thành Q đi giám định tâm thần. Qua giám định, tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung tâm P số 177/KLGĐTC ngày 12/8/2024, kết luận:

  1. Kết luận về y học:
    • Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Thành Q bị bệnh: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác (theo Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD10), bệnh có mã là F16).
    • Trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại, Nguyễn Thành Q: Sức khỏe tâm thần bình thường.
  2. Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi:
    • Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Thành Q: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
    • Trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại, Nguyễn Thành Q: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 220/CT-VKS ngày 07-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Q về tội: “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thành Q và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Q với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen. Xét, bị cáo dùng tiền phạm tội để mua nên cần tịch thu điện thoại này để sung ngân quỹ Nhà nước.

Về án phí:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Thành Q phạm tội như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 02/01/2024, tại phòng 305 khách sạn C tại số B đường H, Tổ B, phuờng I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, lợi dụng sự sơ hở của bà Đào Thị Mỹ T1 trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Thành Q đã lén lút chiếm đoạt số tiền 64.600.000 đồng. Đến ngày 03/01/2024, Nguyễn Thành Q ra đầu thú.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...”

Quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thành Q là người đã trưởng thành, có nhận thức, nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài bất chính, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 64.600.000đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi; Hiện tại bị cáo và bị hại đang chung sống với nhau như vợ chồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp, vừa đảm bảo tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời nêu cao tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Qua xem xét, bị cáo Q có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đối chiếu với các quy định tại Điều 31, 32, 50, 54, 65 của Bộ luật hình sự. Xét nên áp dụng hình phạt tù, cho các bị cáo được hưởng án treo, bên cạnh sự giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục các bị cáo.

[4] Về dân sự: Nguyễn Thành Q đã tác động gia đình bồi thường cho bà Đào Thị Mỹ T1 số tiền 64.600.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bà T1 không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen. (Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong). Qua điều tra xác định: Nguyễn Thành Q đã sử dụng tiền do phạm tội mà có mua chiếc điện thoại trên nên cần tịch thu điện thoại này để sung ngân quỹ Nhà nước.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thành Q.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án 31-10-2024.

Giao bị cáo Nguyễn Thành Q cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu sung ngân quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen. (Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong).

(Tất cả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31 -10 - 2024 giữa Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo: Nguyễn Thành Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Công an thành phố Pleiku;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 217/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger