Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 217/2024/HS-ST

Ngày 24-10-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thân Thị Tuyết Nhung.
  2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức S, sinh năm 1988.

Quê quán: thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Nơi thường trú: Số nhà A, ngõ A, đường N, Tổ dân phố V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Đức A, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Hà Thị B, sinh năm 1960; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ hai; Bị cáo có vợ là Đỗ Thị T, sinh năm 1989 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 26 ngày 20/3/2020 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

2. Phạm Hồng T1, sinh năm 1966.

Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi thường trú: Số nhà F, ngõ A, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1923 (Đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1926 (Đã chết); Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là thứ tư; Bị cáo có vợ là Đồng Thị L, sinh năm 1967 (Đã chết) và có 01 con sinh năm 1992.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 20 ngày 25/4/1984 của Toà án nhân dân thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
  • + Bản án hình sự phúc thẩm số 231 ngày 19/11/1996 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 193 ngày 23/8/1996 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân".
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 162 ngày 11/11/2006 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 208 ngày 24/11/2010 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 64 ngày 19/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/5/2022; chấp hành xong án phí tháng 8/2021; đã được xoá án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số nhà E, đường P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • - Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1956 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1962 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số nhà F, ngõ A, đường C, tổ dân phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến:

  • - Ông Vũ Văn S1, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hồng T1, sinh năm 1966 có quan hệ tình cảm với bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1962 và cùng ở tại số nhà F, ngõ A, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra có chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1993 (là con dâu bà T2) cùng 03 con nhỏ của chị T3 cũng ở tại địa chỉ trên. T1 có sử dụng chất ma tuý.

Theo Phạm Hồng T1 khai: Buổi tối ngày 23/6/2024, T1 đi bộ đến khu vực gầm cầu X, phường L, thành phố B thì gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi đang ngồi uống nước một mình. Qua nói chuyện, người đàn ông này tự giới thiệu tên là H1 nhà ở phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đang muốn bán 01 túi ma tuý heroin và ma tuý ngựa với giá 4.000.000 đồng, nếu T1 mua thì sẽ bán cho. T1 nảy sinh ý định mua số ma tuý này mục đích vừa để sử dụng vừa bán lại cho người khác để thu lợi. T1 đưa cho người đàn ông này 4.000.000 đồng thì được người này đưa cho 01 túi nilon màu xanh có rãnh khoá nhựa, bên trong có ma tuý heroin và các viên, mảnh ma tuý ngựa. T1 cầm túi ma túy đi về nhà cất giấu tại chậu cây cảnh đặt trước cửa nhà. T1 đã lấy một phần ma tuý và tự sử dụng.

Nguyễn Đức S, sinh năm 1998, trú tại số nhà A, ngõ A, đường N, tổ V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang có quen biết Phạm Hồng T1 từ trước và biết T1 bán ma tuý. Bản thân Sinh cũng sử dụng ma tuý. Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 28/6/2024, S sử dụng điện thoại di động V gắn sim số 0933.983.986 gọi đến số điện thoại 0342.921.xxx của Phạm Hồng T1 hỏi mua 250.000 đồng ma túy heroine mục đích để sử dụng. T1 đồng ý bán và hẹn đến nhà T1 để giao dịch. Sau đó, T1 đi đến chậu gốc cây lấy túi ma túy đã cất giấu trước đó mang vào trong phòng khách rồi lấy một phần ma túy heroin cho vào một mảnh giấy và gói lại ngồi chờ Sinh đến. Một lúc sau, S đi xe máy Honda Cup BKS 13FA-1807 đến dừng xe rồi đi bộ đến trước cửa nhà thì T1 từ trong nhà đi ra. Sinh lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đưa cho T1 250.000 đồng gồm 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng. T1 nhận tiền và đưa cho S 01 gói ma túy heroin. Sinh cất gói ma túy vào túi quần rồi đi xe máy ra về. Sau đó, T1 cất túi ma túy vào chậu cây cảnh đặt trước cửa nhà.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Đức S đi đến khu vực cổng chợ T6 thuộc phường T, thành phố B thì bị tổ công tác Công an phường L phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm:

  • - 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong có nhiều màu, bên trong đựng chất cục bột mầu trắng - nghi là ma túy thu giữ trong túi quần bên trái Nguyễn Đức S đang mặc khi bị bắt quả tang được cho vào một phong bì thư dán kín niêm phong tại chỗ.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen gắn sim số 0333.983.986.
  • - Số tiền 6.000 đồng.
  • - 01 xe mô tô Honda Cup BKS 13FA-1807.

Công an phường L đã bàn giao Nguyễn Đức S và vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B. Cơ quan điều tra đã mở kiểm tra phong bì thư xác định bên trong có 01 gói giấy có một mặt màu trắng, mặt bên trong có nhiều màu, bên trong đựng chất cục bột nghi là ma tuý sau đó tiến hành niêm phong số vật chứng này trong phong bì thư ký hiệu “S”.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi ma túy thu giữ của Nguyễn Đức S khi bắt quả tang.

Kết luận giám định số 1467/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “S”, được niêm phong gửi giám định:

Chất cục bột màu trắng đục đựng trong 01 (một) gói giấy một mặt màu trắng, một mặt nhiều màu là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,122 gam.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Đức S và kết quả điều tra; ngày 29/6/2024 Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Hồng T1 tại số nhà F, ngõ A, đường C, tổ dân phố D, phường L, thành phố B đã thu giữ những vật chứng, tài sản gồm:

  • - 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa bên trong đựng 12 (mười hai) viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 01 mảnh viên nén màu hồng đỏ và chất cục bột- đều nghi là ma túy. Tang vật được phát hiện thu giữ tại chậu cây cảnh đặt tại bậc thềm được cho vào trong 01 phong bì thư ký hiệu “KX01” dán kín niêm phong.
  • - Nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Phạm Hồng T1 đang mặc được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “Tiền”.
  • - Nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau được phát hiện thu giữ trong ví da màu nâu để trong túi quần phía sau bên phải Phạm Hồng T1 đang mặc được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “Tiền ví”.
  • - Nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau được phát hiện thu giữ trong tủ gỗ đặt tại phòng ngủ tầng 2 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “Tiền tầng 2”.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 7 màu vàng, gắn sim số 0376.812.078
  • - 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, gắn sim số 0358.421.797.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 14 plus màu tím, gắn sim số 0342.921.966

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Phạm Hồng T1 khi khám xét.

Kết luận giám định số 1468/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “KX01” được niêm phong, gửi giám định:

  • - Trong 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa:
  • + 12 (mười hai) viên nén hình tròn màu hồng đỏ và 01 (một) mảnh viên nén màu hồng đỏ đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,326 gam.
  • + Chất cục bột màu trắng đục là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 3,423 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hồng T1 đầu thú và khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức S ngày 28/6/2024. Đối với số ma tuý bị thu giữ khi khám xét, T1 khai mục đích vừa sử dụng cho bản thân vừa bán cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an phát hiện, thu giữ. T1 khai chỉ bán ma tuý duy nhất 01 lần cho Sinh vào ngày 28/6/2024.

Cơ quan điều tra đã cho các bị cáo Nguyễn Đức S, Phạm Hồng T1 nhận dạng ảnh của nhau và quan sát bản ảnh vật chứng. Kết quả, T1 và S đều nhận đúng ảnh của nhau và xác định T1 bán cho S 01 gói ma tuý heroin vào ngày 28/6/2024; các bị can xác định gói ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ của S là do T1 đã bán cho S.

Ngày 04/7/2024, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Đức S, Phạm Hồng T1 thực nghiệm hành vi mua bán ma túy tại hiện trường. Kết quả T1 thực hiện thuần thục động tác lấy ma tuý gói vào 01 mảnh giấy nhỏ; S thực hiện động tác lấy số tiền 250.000 đồng trong túi quần bên phải đưa cho T1 và được T1 đưa cho 01 gói ma tuý; Sinh cất gói ma tuý vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi lái xe ra về; T1 thực hiện động tác cất giấu gói ma tuý còn lại ở chậu cây cảnh trước cửa nhà.

Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus màu tím gắn sim số 0342.921.966 của Nguyễn Hồng T4 không còn lưu lịch sử liên lạc với số điện thoại của Nguyễn Đức S. Theo T4 khai sau khi bán ma túy cho S xong thì T4 xóa lịch sử cuộc gọi để tránh bị phát hiện.

Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Viettel lắp sim số 0333.983.xxx của Nguyễn Đức S xác định: Từ 18 giờ 49 phút đến 19 giờ 11 phút ngày 28/6/2024 có 03 cuộc gọi với số điện thoại 0342.921.xxx. Theo S khai là các cuộc gọi có nội dung trao đổi mua bán ma túy với T4.

Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:

  • + Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu vàng, gắn sim 0376.812.078 và điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, gắn sim 0358.421.797 không phát hiện vi phạm pháp luật; mở niêm phong phong bì ký hiệu “Tiền tầng 2” có tổng số tiền là 13.000.000 đồng. Kết quả điều tra xác định những tài sản này là của cá nhân bà Đỗ Thị T2 không liên quan mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T2.
  • + Mở niêm phong, kiểm tra số tiền thu giữ tại túi quần và trong ví da của Phạm Hồng T1 xác định có tổng số tiền 16.060.000 đồng. Kết quả điều tra xác định trong số tiền này có 15.000.000 đồng là của ông Phạm Văn B1, sinh năm 1956, trú tại số nhà B, ngõ A, đường T, phường T, thành phố B (là anh trai T1) gửi nhờ T1 giúp mua xe máy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông B1 15.000.000 đồng; tiếp tục tạm giữ của T1 số tiền còn lại 1.060.000 đồng.
  • + Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Cup BKS 13FA-1807 thu giữ của Nguyễn Đức S. Kết quả điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983, trú tại số nhà E, đường P, phường D, thành phố B (là chị gái S) cho S mượn để đi làm việc; bà N không biết S sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà N.
  • + Số ma tuý hoàn lại sau giám định và tài sản, vật chứng còn lại được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Đối với Phạm Hồng T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý đối với Thái dương T5 với ma tuý nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với chị Nguyễn Thị T3, bà Đỗ Thị T2 sinh sống cùng với Phạm Hồng T1 tại số nhà A, ngõ A, đường N, tổ dân phố V, phường H, thành phố B nhưng không biết T1 mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma túy cho T1. Theo T1 khai chỉ biết tên là H1 có địa chỉ tại phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được.

Tại Bản cáo trạng số 201/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đức S bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Hồng T1 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức S từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng T1 từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
  • - Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong thư có ký hiệu “S” đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định 0,105 gam; 01 phong thư có ký hiệu “KX01” đựng 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khoá nhựa bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định 3,276 gam và mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 1,220 gam.
    • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số IMEI 1 “351580075092847”, số IMEI 2 “351580075092845” gắn sim số 0333.983.986 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 plus màu tím số IMEI “356601715634429”, gắn sim số 0342.921.966.
    • +Trả lại bị cáo Nguyễn Đức S số tiền 6.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • +Trả lại bị cáo Phạm Hồng T1 số tiền 1.060.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • + Buộc bị cáo T1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận, đã nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. [2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
  3. [3] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Phạm Hồng T1 mua của người không quen biết một túi ma túy gồm các loại ma tuý heroin và M với giá 4.000.000 đồng sau đó đem về nhà cất giấu mục đích vừa để sử dụng vừa bán lại cho người khác. Ngày 28/6/2024, T1 bán cho Nguyễn Đức S 01 gói ma tuý heroin với giá 250.000 đồng. Sinh chưa kịp sử dụng ma tuý thì bị Công an phường L, thành phố B bắt quả tang, thu giữ vật chứng, kết quả giám định là ma tuý heroin có khối lượng 0,122 gam. Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của T1 thu giữ 01 túi ma túy. Kết quả giám định là 1,362 gam Methamphetamine và 3,423 gam Heroin. T1 khai tàng trữ số ma túy trên mục đích vừa để sử dụng vừa để bán lại cho người khác. Tổng khối lượng ma tuý mà T1 phải chịu trách nhiệm hình sự (gồm số ma tuý đã bán cho S và thu giữ khi khám xét) là 1,362 gam Methamphetamine và 3,545 gam Heroin. Tổng khối lượng 2 chất ma tuý là 4,907 gam. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Hồng T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
  4. [4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần xử nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để đảm bảo giáo dục các bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
  5. [5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân, đều đã bị xét xử về hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo T1 xin đầu thú. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1. Ngoài ra, bị cáo T1 có anh trai ruột là người có công với Cách mạng, đây cũng là một trong các căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
  6. [6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo S không có nghề nghiệp ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo T1 tuy không có nghề nghiệp ổn định nhưng bị cáo mua bán ma tuý nhằm thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
  7. [7] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
  8. [8] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong thư có ký hiệu “S” đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định 0,105 gam; 01 phong thư có ký hiệu “KX01” đựng 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khoá nhựa bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định 3,276 gam và mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 1,220 gam đều là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
    • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số IMEI 1 “351580075092847”, số IMEI 2 “351580075092845" gắn sim số 0333.983.986 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 plus màu tím số IMEI “356601715634429”, gắn sim số 0342.921.966 đều là công cụ mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội (liên hệ mua bán ma tuý).
    • +Trả lại bị cáo Nguyễn Đức S số tiền 6.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • +Trả lại bị cáo Phạm Hồng T1 số tiền 1.060.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • + Buộc bị cáo T1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng do bán trái phép ma tuý có được.
  9. [9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  10. [10] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  11. [11] Đối với Phạm Hồng T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý đối với Thái dương T5 với ma tuý nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
  12. [12] Đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma túy cho T1, T1 khai chỉ biết tên là H1 có địa chỉ tại phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được. Đối với chị Nguyễn Thị T3, bà Đỗ Thị T2 sinh sống cùng với Phạm Hồng T1 tại số nhà A, ngõ A, đường N, tổ dân phố V, phường H, thành phố B nhưng không biết T1 mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức S 01(một) năm 02(hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng T1 03(ba) năm 08(tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.
  3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong thư có ký hiệu “S” đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định 0,105 gam; 01 phong thư có ký hiệu “KX01” đựng 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khoá nhựa bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định 3,276 gam và mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 1,220 gam.
    • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, số IMEI 1 “351580075092847”, số IMEI 2 “351580075092845” gắn sim số 0333.983.986 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 plus màu tím số IMEI “356601715634429”, gắn sim số 0342.921.966.
    • +Trả lại bị cáo Nguyễn Đức S số tiền 6.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • +Trả lại bị cáo Phạm Hồng T1 số tiền 1.060.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • + Buộc bị cáo T1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND p.Hoàng Văn Thụ, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - UBND p.Lê Lợi, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Số: 47/2024/TB-TA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bắc Giang, ngày 29 tháng 11 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 217/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang do có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

  1. Về nội dung tại dòng 15-16 từ dưới lên trên của trang 01 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Nơi thường trú: Số nhà A, ngõ A, đường N, Tổ dân phố V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang”.
  2. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Nơi thường trú: Số nhà A, ngõ A, đường N, tổ V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang”.

  3. Về nội dung tại dòng 1-2 từ trên xuống dưới của trang 2 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Nơi thường trú: Số nhà F, ngõ A, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang”.
  4. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Nơi thường trú: Số I, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: Số nhà F, ngõ A, đường C, tổ dân phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang”.

  5. Về nội dung tại dòng 12 từ dưới lên trên của trang 10 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Áp dụng khoản 1 Điều 251...”.
  6. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251".

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND p.Hoàng Văn Thụ, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - UBND p.Lê Lợi, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 217/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức S tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger