|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 217/2024/HSST Ngày: 28/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hữu
Ông Nguyễn Văn Xuất.
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 192/2024/TLST-HS ngày 13/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Tạ Văn T - Sinh ngày 11/4/1984 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn X, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 09/12. Họ tên cha: Tạ Duy H, sinh năm 1959. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1960 (đã chết). Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1983, có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014. Tiền sự: Không. Tiền án: Không.
Về nhân thân: Ngày 13/10/2006, Tòa phúc thẩm tại Hà Nội - Toà án nhân dân Tối cao xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản (Bản án số 1076/2006/HSPT), chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2011, nộp tiền án phí ngày 05/7/2007. Bản án đã được xóa.
Tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024. Tạm giam từ ngày 31/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam số I - Công an thành phố H. Số giam: 3632E2/B2. D1, chỉ bản số 432 ngày 31/5/2024 của Công an huyện S. Có mặt.
2. Họ và tên: Phan Văn T1 - Sinh ngày 18/4/1984 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 06/12. Họ tên cha: Phan Văn T2, sinh năm 1962. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1964. Vợ: Trần Thị Như Q, sinh năm 1985, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền sự: Không. Tiền án: Không.
Về nhân thân: Ngày 29/01/2018 Công an huyện S xử phạt hành chính về hành vi xâm hại đến sức khoẻ người khác, phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp ngày 30/01/2018.
Tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024. Tạm giam từ ngày 31/5/2024 đến ngày 28/6/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 431 ngày 31/5/2024 của Công an huyện S. Có mặt.
3. Họ và tên: Trần Văn Đ - Sinh ngày 01/8/1960 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 08/10. Họ tên cha: Trần Văn P, sinh năm 1930 (đã chết). Họ tên mẹ: Bùi Thị L, sinh năm 1930 (đã chết). Vợ: Lê Thị T3, sinh năm 1961, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024. Tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 433 ngày 31/5/2024 của Công an huyện S. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn T5. Địa chỉ tại lô G, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông EAKKASIT TANSRI - Phó Tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Bà Tạ Thị Khánh Q1, sinh năm 1985, Trưởng phòng hành chính nhân sự. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 17/5/2024, ông S, sinh năm 1981, quốc tịch Thái Lan, là Giám đốc sản xuất của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5, có địa chỉ tại lô 79-KCN N, xã Q, huyện S, Hà Nội gọi bà Tạ Thị Khánh Q1 (là Trưởng phòng hành chính nhân sự của Công ty) để trao đổi về việc Công ty bị mất trộm tài sản. Bà Q1 xem lại camera và phát hiện Tạ Văn T (là Quản đốc của Công ty), sinh năm 1984, trú tại thôn X, xã Q, huyện S, Hà Nội đã điều khiển xe nâng cẩu cuộn thép tấm từ trong nhà máy vào thùng 01 xe tải chở hàng hóa đi từ bên ngoài vào đậu phía cây hương của Công ty mà không đăng ký bảo vệ.
Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 20 giờ ngày 09/5/2024, Tạ Văn T, trực quản đốc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T5, T thấy đống cuộn thép tấm ở góc xưởng, vị trí này không có ai làm việc nên nảy sinh ý định trộm cắp đem đi bán lấy tiền tiêu xài. T sử dụng điện thoại Iphone 6s Plus, số sim 0982518141 gọi đến số điện thoại 0961.643.xxx của Phan Văn T1, sinh năm 1984, trú tại thôn Đ, xã M, huyện S, Hà Nội bảo T1 gọi xe ô tô tải vào chở sắt mang ra ngoài bán, T1 đồng ý. Thuật sử dụng điện thoại V, số sim 0971293051 gọi điện thuê xe ô tô tải của anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1979, trú tại thôn H, xã M, huyện S, Hà Nội vào Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 chở cuộn thép tấm mang đi bán. Do Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 có quy định xe chở hàng vào Công ty phải đăng ký biển số, mục đích ra vào Công ty với bảo vệ trực đêm, nên T gọi đến số điện thoại 0979.236.xxx của Trần Văn Đ, sinh năm 1960, trú tại thôn B, xã Q, huyện S, Hà Nội đang trực bảo vệ cổng A1 để nhờ Đ cho xe ô tô của T1 vào Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 lấy trộm thép, T hứa sẽ cho Đ 1.000.000 đồng, Đ đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe ô tô tải thùng kín cùng T1 đi vào Công ty trách nhiệm hữu hạn T5. T sử dụng xe nâng, nâng 02 cuộn thép tấm để vào trong 01 thùng sắt rồi cẩu vào trong thùng xe ô tô tải của L1 do T1 dẫn vào. T bảo T1 mang thép tấm đi bán được bao nhiêu tiền thì chia đều cho T, T1 đồng ý. T1 bảo L1 điều khiển xe đến trạm cân tại mặt đường Q thuộc thôn Đ, xã T, huyện S, Hà Nội để cân. Tại trạm cân, T1 gặp ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1969, trú tại thôn Đ, xã T, huyện S, Hà Nội thuê cân sắt, trả công cho ông L2 30.000 đồng. Sau đó, T1 sang nhà bà Trần Thị B, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T, huyện S, Hà Nội bán toàn bộ số tài sản vừa trộm cắp được. Hai bên thoả thuận mua với giá phế liệu 9.700 đồng/1kg, tổng 2.742 kg phế liệu. Bà B sử dụng số tài khoản: 0941000010489 Ngân hàng V1 chuyển 26.600.000 đồng tiền mua phế liệu qua số tài khoản: 100872804724 Ngân hàng V2 của T1. Sau đó, T1 chuyển 10.000.000 đồng đến số tài khoản: 105869527051 Ngân hàng V2 của Tạ Văn T.
Vật chứng thu giữ:
- - Tạm giữ Tạ Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, dung lượng 64GB, imei: 355730076730418, bên trong lắp 01 sim số 0982518141.
- - Tạm giữ Trần Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C, màu đen, số imeil: 866649057757228, số imei2: 866649057757236, bên trong lắp 01 sim số 0979236796.
- - Tạm giữ Phan Văn T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh, số imei1: 860646041416412, số imei2: 860646041416404, bên trong lắp 02 sim các số 0819329775, 0961643983; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh, số imei1:356781094452054, số imei2: 3567891094452062, bên trong lắp sim số 0971293051.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 134/KL-HĐ ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 cuộn thép tấm, mã JSH440W-PO khối lượng 693 kg, trị giá 19.440.937 đồng; 01 cuộn thép tấm, mã JSH440W-PO khối lượng 302 kg, trị giá 8.590.028 đồng. Tổng trị giá 02 cuộn thép tấm là 28.030.965 đồng (Hai mươi tám triệu, không trăm ba mươi nghìn, chín trăm sáu mươi lăm đồng).
Ngoài ra, quá trình điều tra, Tạ Văn T và Phan Văn T1 còn khai nhận: Trước đó T và T1 thuê xe ô tô tải vào Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 trộm cắp phế liệu nhiều lần mang đi bán, cụ thể:
- - Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 31/3/2024, Phan Văn T1 bán cho anh Lê Văn B1, sinh năm 2003, trú tại thôn D, xã T, huyện S, Hà Nội 2,188 kg phế liệu được 18.600.000 đồng. Thuật chuyển khoản cho T 5.000.000 đồng, số tiền còn lại Thuật tiêu xài hết.
Phan Văn T1 trực tiếp bán phế liệu cho bà Trần Thị B 07 lần, cụ thể:
- - Lần 1: Khoảng 21 giờ ngày 06/4/2024, T1 bán cho bà B 2,423 kg phế liệu được 20.600.000 đồng. Thuật chuyển cho T 7.000.000 đồng.
- - Lần 2: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, T1 bán cho bà Trần Thị B 2,717 kg phế liệu được 23.100.000 đồng. Thuật chuyển cho T 10.000.000 đồng.
- - Lần 3: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, T1 bán cho bà Trần Thị B 3,752 kg phế liệu được 31.900.000 đồng. Thuật chuyển cho T 13.000.000 đồng.
- - Lần 4: Khoảng 21 giờ ngày 17/4/2024, T1 bán cho bà B 2,411 kg phế liệu được 21.700.000 đồng. Thuật chuyển cho T 10.000.000 đồng.
- - Lần 5: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/4/2024, T1 bán cho bà B 2,600 kg phế liệu được 23.400.000 đồng. Thuật chuyển cho Tạ Văn T 10.000.000 đồng.
- - Lần 6: Khoảng 21 giờ ngày 07/5/2024, T1 bán cho bà B 2,525kg phế liệu được 24.500.000 đồng. Thuật chuyển cho T 9.000.000 đồng.
- - Lần 7: Khoảng 21 giờ giờ ngày 08/5/2024, T1 bán cho bà Trần Thị B 2.762 kg phế liệu được 26.800.000 đồng. Phan Văn T1 chuyển cho Tạ Văn T 10.000.000 đồng.
Trong các ngày 06/4/2024; 14/4/2024 (ca 2); 17/4/2024; 07/5/2024; 09/5/2024, T có bảo Trần Văn Đ mở cổng để cho xe ô tô tải của Phan Văn T1 vào lấy phế liệu. Ngày 09/5/2024, khi T nhờ Đ mở cổng, Đ biết việc xe ô tô của T vào Công ty để trộm cắp phế liệu mang đi bán, nhưng Đ đã có hành vi giúp sức cho T, T1 bằng cách cho xe ô tô tải vào Công ty trộm cắp tài sản để hưởng lợi. Mỗi lần Đ mở cổng cho xe ô tô của T1 vào Công ty mang phế liệu đi bán thì T cho Đ 1.000.000 đồng (Ngày 06/4; 17/4; 07/5/2024, mỗi lần T đưa Đ 1.000.000 đồng. Ngày 09/5/2024, T hứa cho Đ 1.000.000 đồng, nhưng chưa đưa cho Đ).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 195/KL-HĐ ngày 08/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: Tổng trị giá sắt vụn phế liệu của 08 lần Phan Văn T1 bán là 177.276.250 đồng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh số lượng, loại tài sản bị mất trộm của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 và đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 xác định về số lượng, loại tài sản như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 xác định tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 bị mất trộm ngày 09/5/2024 là 02 tấm thép dạng cuộn. Trong quá trình quản lý phế liệu của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 không phát hiện bị mất trộm phế liệu.
Số sắt vụn phế liệu mà Tạ Văn T và T1 đã mang đi bán gồm: Ngày 31/3/2024 là 2.188kg; ngày 06/4/2024 là 2.423kg; ngày 14/4/2024 là 6.469kg; ngày 17/4/2024 là 2.411kg; ngày 25/4/2024 là 2.600 kg; ngày 07/5/2024 là 2.525kg; ngày 08/5/2024 là 2.762kg; ngày 09/5/2024 là 1.747kg thì Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 không xác định là tài sản của Công ty. Mặt khác, bà Trần Thị B và anh Lê Văn B1 (người mua sắt vụn phế liệu) cũng không nhận dạng được số phế liệu đã mua của các bị cáo, toàn bộ số phế liệu đó đã bán cho người khác, hiện không còn. Do vậy, ngoài lời khai của các bị cáo T, T1 thì không có tài liệu nào khác thể hiện số sắt phế liệu các bị cáo bán cho bà B1 và anh B1 là tài sản trộm cắp của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5, nên không có căn cứ xử lý đối với các bị cáo T, T1, Đ về số lượng sắt phế liệu nêu trên.
Các ngày 31/3/2024; 14/4/2024 (ca 3); 25/4/2024; 08/5/2024, Tạ Văn T có bảo ông Lê Bá T4, sinh năm 1966, trú tại L, T, Hà Nội đang trực bảo vệ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 mở cổng cho xe ô tô của T1 vào nhưng ông T4 không biết mục đích, không được hưởng lợi gì từ việc T nhờ mở cổng để cho xe của T1 vào Công ty trách nhiệm hữu hạn T5. Do vậy, không đủ căn cứ xử lý đối với ông T4 trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Văn L1: Ông L1 được T1 thuê đến Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 để chở hàng, sau mỗi lần T1 có trả tiền xe ô tô cho ông L1 1.500.000 đồng, ngày 09/5/204 thì T1 trả cho ông L1 2.000.000 đồng tiền công. Ông L1 chỉ lái xe chở hàng thuê, không biết hàng là tài sản do T1 phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện S không đề cập xử lý hành vi của Nguyễn Văn L1.
Đối với bà Trần Thị B: Ngày 09/5/2024, khi mua sắt phế liệu của T1 bà B không biết tài sản trên do T1 phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S không đề cập xử lý hành vi của bà B.
Về phần bồi thường dân sự: Bị cáo Tạ Văn T và Phan Văn T1 đã bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 số tiền 28.030.965 đồng. Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 không còn yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận ngày 09/5/2024 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 02 cuộn thép tấm của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 trị giá 28.030.965 đồng. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn T, Phan Văn T1, Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Tạ Văn T với mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phan Văn T1 với mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Đ với mức án từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- - Áp dụng các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
- + Về phần bồi thường dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 đã được các bị cáo bồi thường đầy đủ số tiền 28.030.965 đồng, không còn yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nên không phải đặt ra để giải quyết.
- + Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 04 điện thoại di động thu của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- - Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí. Các bị cáo T, T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2} Về nội dung vụ án: Tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Bản kết luận điều tra số: 57/BKL-ĐTTH ngày 16/8/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện S kết luận các bị cáo Tạ Văn T và Phan Văn T1 01 lần thực hiện hành vi trộm cắp 02 thép tấm dạng cuộn của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 trị giá 28.030.965 đồng vào ngày 09/5/2024 và trước đó đã 08 lần thực hiện hành vi trộm cắp sắt phế liệu của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5. Tổng trị giá tài sản Tạ Văn T và Phan Văn T1 trộm cắp 09 lần là 205.307.215 đồng. Trần Văn Đ phải chịu trách nhiệm 04 lần đồng phạm trộm cắp tài sản tổng trị giá 108.117.667 đồng. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện S đề nghị truy tố Tạ Văn T và Phan Văn T1 về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Văn Đ về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Lời khai của bị cáo Tạ Văn T và bị cáo Phan Văn T1 cũng như lời khai của bà Trần Thị B khớp nhau về số lần mua bán sắt phế liệu, số tiền chuyển cho nhau qua tài khoản ngân hàng. Nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 khai chỉ mất trộm tài sản một lần duy nhất vào ngày 09/5/2024 là 02 thép tấm dạng cuộn có trị giá 28.030.965 đồng. Ngoài ra, Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 không mất trộm sắt phế liệu như các bị cáo khai. Mặt khác, toàn bộ vật chứng là sắt phế liệu của 08 lần mua bán giữa Phan Văn T1 với bà Trần Thị B, anh Lê Văn B1 không thu giữ được do bà B1, anh B1 ngay sau khi mua của T1 đã bán hết cho những người không quen biết. Lời khai nhận của bị cáo Tạ Văn T và bị cáo Phan Văn T1 không đủ cơ sở buộc tội các bị cáo khi không có tài liệu, chứng cứ nào khác, không xác định được bị hại.
Do đó, chỉ đủ cơ sở xác định được: Khoảng 21 giờ ngày 09/5/2024, tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 thuộc lô 79-KCN Nội Bài, xã Q, huyện S, Hà Nội, Tạ Văn T, Phan Văn T1 có hành vi lén lút trộm cắp 02 cuộn thép tấm của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 có trị giá là 28.030.965 đồng. Bị cáo Trần Văn Đ biết rõ T, Thuật trộm tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 nhưng vẫn mở cổng cho xe ô tô vào chở thép ra bán nên có vai trò đồng phạm.
Vì vậy, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Tạ Văn T, Phan Văn T1, Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Bản cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Tạ Văn T, Phan Văn T1, Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức vì không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Tạ Văn T là người đề xuất việc trộm cắp tài sản nên có vai trò cao nhất trong vụ án. Bị cáo Phan Văn T1 là người trực tiếp đi thuê xe ô tô chở và mang tài sản trộm cắp đi bán nên có vai trò cao hơn Trần Văn Đ. Bị cáo Đ là bảo vệ công ty, biết rõ T, Thuật trộm tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 nhưng vẫn mở cổng cho xe ô tô vào chở thép ra ngoài, có vai trò đồng phạm đơn giản, giúp sức cho các bị cáoToàn, T1, ngày 09/5/2024 chưa được hưởng lợi gì.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt với mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo Trần Văn Đ chưa có tiền án, tiền sự.
Về nhân thân:
- - Đối với bị cáo Tạ Văn T có nhân thân xấu: Ngày 13/10/2006, Tòa Phúc thẩm tại Hà Nội - Toà án nhân dân Tối cao xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2011, nộp tiền án phí ngày 05/7/2007. Bản án này đã được xóa.
- - Đối với bị cáo Phan Văn T1: Ngày 29/01/2018 Công an huyện S xử phạt hành chính về hành vi xâm hại đến sức khoẻ người khác, mức phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp ngày 30/01/2018, tiền sự này đã hết thời hiệu.
{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo T và T1 đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T5. Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thời gian phục vụ trong quân đội hoàn thành nhiệm vụ. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo T1 và Đ được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
{3} Về phần bồi thường dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 đã nhận toàn bộ tiền bồi thường trị giá tài sản bị trộm cắp, không còn yêu cầu gì về bồi thường, nên không phải đặt ra để giải quyết.
{4} Về vật chứng: Cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 04 điện thoại di động thu của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cụ thể gồm:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, dung lượng 64GB, imei: 355730076730418, bên trong lắp 01 sim số 0982518141.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C, màu đen, số imeil: 866649057757228, số imei2: 866649057757236, bên trong lắp 01 sim số 0979236796.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh, số imeil: 860646041416412, số imei2: 860646041416404, bên trong lắp 02 sim các số 0819329775, 0961643983.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh, số imei1:356781094452054, số imei2: 3567891094452062, bên trong lắp sim số 0971293051.
{5} Về án phí: Các bị cáo Tạ Văn T, Phan Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Trần Văn Đ là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
{6} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn T, Phan Văn T1, Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Tạ Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 5 năm 2024.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phan Văn T1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn Đ 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao Phan Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Giao Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- + Trả lại Trần Văn Đ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền số: 0062547 ngày 12/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, dung lượng 64GB, imei: 355730076730418, bên trong lắp 01 sim số 0982518141.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C, màu đen, số imeil: 866649057757228, số imei2: 866649057757236, bên trong lắp 01 sim số 0979236796.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh, số imeil: 860646041416412, số imei2: 860646041416404, bên trong lắp 02 sim các số 0819329775, 0961643983.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh, số imei1:356781094452054, số imei2: 3567891094452062, bên trong lắp sim số 0971293051.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 19/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
+ Tạ Văn T, Phan Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
+ Bị cáo Trần Văn Đ được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ và chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Vân |
Bản án số 217/2024/HSST ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 217/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn T, Phan Văn T1, Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Tạ Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 5 năm 2024. 2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phan Văn T1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án. 3. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn Đ 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao Phan Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Giao Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. - Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. + Trả lại Trần Văn Đ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền số: 0062547 ngày 12/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, dung lượng 64GB, imei: 355730076730418, bên trong lắp 01 sim số 0982518141. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C, màu đen, số imei1: 866649057757228, số imei2: 866649057757236, bên trong lắp 01 sim số 0979236796. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu xanh, số imei1: 860646041416412, số imei2: 860646041416404, bên trong lắp 02 sim các số 0819329775, 0961643983. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh, số imei1:356781094452054, số imei2: 3567891094452062, bên trong lắp sim số 0971293051. (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 19/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn). + Tạ Văn T, Phan Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. + Bị cáo Trần Văn Đ được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ và chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình.
