Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 217/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Cần.

Ông Huỳnh Sơn Tây.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thiện Q, sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: tổ A, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị Thu H; tiền án, tiền sự: không; ngày 11/3/2024, bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966; nơi cư trú: C, khu vực Y, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ; có đơn xin vắng mặt.
  2. Ông Ngô Minh S, sinh năm 1974; nơi cư trú: số A, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 10/3/2024, để có ma túy sử dụng nên Lê Thiện Q sử dụng điện thoại truy cập vào mạng xã hội Facebook và gọi điện thoại cho đối tượng nữ tên T (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy. T hẹn Q đến khu vực ngã ba C thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để nhận ma túy. Q điều khiển xe mô tô biển số 60T5-8470 đi đến địa điểm đã hẹn để gặp T, khi gặp Q đưa cho T số tiền 500.000 đồng và nhận lại từ Thiện 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy. Sau đó, Q cầm ma túy ở tay trái và điều khiển xe đi về nhà để sử dụng, khi đi đến đường Đ thuộc khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì xe bị hết xăng nên Q xuống xe dẫn bộ, đang đi thì bị Công an phường T phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện Q đang cầm ở tay trái 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô biển số 60T5-8470; 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh.

Đối với xe mô tô biển số 60T5-8470, Lê Thiện Q khai mua lại của người khác nhưng không làm giấy tờ mua bán, sang tên. Kết quả tra cứu xác định biển số 60T5-8470 được cấp xe mô tô hiệu Attila do ông Ngô Minh S đứng tên chủ sở hữu, ông S cho biết trước đây có sở hữu xe mô tô hiệu Attila, biển số 60T5-8470 nhưng đã bán; kết quả tra cứu biển số 60T5-8470 không nằm trong dữ liệu xe máy vật chứng. Tiến hành tra cứu, giám định số khung số máy của xe xác định số khung số máy không đổi, theo kết quả tra cứu xác định xe mô tô thu giữ từ Lê Thiện Q có nhãn hiệu ZONGSHEN, xe được cấp biển số 65P2-1484 do ông Nguyễn Văn N đứng tên chủ sở hữu, ông N xác định đã bán xe cho người khác, kết quả tra cứu xác định xe không có trong thông tin dữ liệu xe máy vật chứng.

Kết luận giám định số 1341/KL-KTHS(MT) ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể trong 01 túi nylon thu giữ từ Lê Thiện Q là ma túy, khối lượng 0,4130 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 218/CT-VKS.TU ngày 05/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo: Lê Thiện Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Thiện Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ và 01 biển số 60T5-8470; sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô và 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh.

Bị cáo không có ý kiến trình bày.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin vắng mặt; việc xin vắng mặt là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, tại đoạn đường ĐT 747A thuộc khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Thiện Q đã có hành vi tàng trữ 0,4130 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện nên đã cố ý phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 1341/PC09, bên trong chứa Methamphetamine theo Kết luận giám định số 1341/KL-KTHS(MT) ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B là vật chứng trong vụ án và là vật câm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh, số Imei: 353279111281096, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô, số khung: ZS10099096057, số máy: HD1P50FMG-399255544, đã qua sử dụng, không có đèn chiếu sáng và mặt nạ nhựa phía trước là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với biển số 60T5-8470 không phải cấp cho xe mô tô bị thu giữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối tượng nữ tên T bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý sau là phù hợp.

[9] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thiện Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Thiện Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2024.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 1341/PC09, bên trong chứa Methamphetamine theo Kết luận giám định số 1341/KL-KTHS(MT) ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B và 01 (một) biển số 60T5-8470.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh, số Imei: 353279111281096, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô, số khung: ZS10099096057, số máy: HD1P50FMG-399255544, đã qua sử dụng, không có đèn chiếu sáng và mặt nạ nhựa phía trước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 8 năm 2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Thiện Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng (3);
  • - Lưu: văn thư, hồ sơ,11.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 217/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thiện Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger