Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 217/2024/HSST

Ngày: 18-09-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Mai
  2. Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 09 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 206/2024/TLST-HS ngày 12/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST-HS ngày 21/08/2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Ngọc L; giới tính: N, sinh năm: 1986 tại thành phố Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú: A H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở hiện tại: B L, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Trần Ngọc Q (đã chết) và bà Ngô Thị H; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Hoàng Thu T (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/02/2024 (Có mặt).
  2. Mã Tuấn M; giới tính: N, sinh năm: 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Khu H, Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện tại: 2 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Mã Phát L1 và bà Trần Thị Kim L2; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/02/2024 (Có mặt).
  3. Trịnh Thanh L3; giới tính: N, sinh năm: 2002 tại tỉnh Bình Định; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở hiện tại: B L, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Trịnh Hoa Đ và bà Phạm Thị M1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/02/2024 (Có mặt).
  4. Đặng Công S; giới tính: N, sinh năm: 1971 tại tỉnh Nghệ An; Hộ khẩu thường trú: 1 đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Nhà không số, Tổ A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Đặng Trọng U (đã chết) và bà Phạm Thị T1 (đã chết); Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Võ Thị T2 (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh năm 1996; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/02/2024 (Có mặt).
  5. Nguyễn Thị Thu H1; giới tính: Nữ, sinh năm: 2004 tại tỉnh Hà Tĩnh; Hộ khẩu thường trú: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Nguyễn Văn L4 và bà Nguyễn Thị H2; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21/05/2024 (Có mặt).
  6. Lê Triệu V; giới tính: Nữ, sinh năm: 2004 tại tỉnh Cà Mau; Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện tại: B L, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Con ông Lê Văn T3 và bà Nguyễn Thị L5; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng và có 02 người con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/02/2024 đến ngày 15/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phan Thanh N1, sinh năm 1986; địa chỉ: 1 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  2. Ông Phạm Minh T4, sinh năm 1977; địa chỉ: H đường số D, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  3. Ông Trần Phong N2, sinh năm 1990; địa chỉ: 9 H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  4. Ông Lê Đức K, sinh năm 1985; địa chỉ: 1 đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  5. Ông Đinh Trọng N3, sinh năm 1991; địa chỉ: 9 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
  6. Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1987; địa chỉ: 4 Đ, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 40 phút ngày 05/02/2024, Tổ công tác 363 Công an Quận G có 06 đồng chí gồm thiếu tá Phan Thanh N1, trung tá Phan Minh T5, đại úy Trần Phong N2, đại úy Lê Đức K, thượng úy Đinh Trọng N3, thượng úy Nguyễn Văn Q1 do đồng chí Phan Thanh N1 làm tổ trưởng được phân công nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn quận G. Tổ công tác có 02 đồng chí là Phan Thanh N1 và Đinh Trọng N3 mặc thường phục. Khi tuần tra đến trước địa chỉ B L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Trịnh Thanh L3 điều khiển xe máy biển số 59G2 – 22647 chở Trần Ngọc L ngồi sau, cả hai không đội nón bảo hiểm nên tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Đồng chí N1 có giới thiệu là Tổ công tác 363 Công an quận G tiến hành tuần tra kiểm soát và xuất trình Giấy chứng minh công an nhân dân cho L và L3 biết và chấp hành. Tổ công tác 363 đã yêu cầu L xuất trình giấy tờ để kiểm tra nhưng Lưu không chấp hành và có thái độ thách thức, chửi thành viên Tổ công tác 363 là “Mày là đầu buồi gì tao phải chấp hành” và dùng tay đẩy thành viên lực lượng 363, xông đến chỗ đồng chí N1, để tự vệ và khống chế sự phản kháng của L đồng chí N1 đã dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt L. Lúc này, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Lê Triệu V, Nguyễn Thị Thu H1, Vũ Văn M2, Nguyễn Thanh Đ1, Nguyễn Thanh S1 đang ngồi nhậu ở Quán M3, địa chỉ: B đường L, phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là bạn của L và L3 đi bộ qua đường thấy L bị xịt hơi cay nên Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Nguyễn Thị Thu H1 xông đến chửi và gây áp lực với Tổ công tác 363 để không xử lý L. Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 xông vào khiêu khích và có các cử chỉ vung tay, húc vào người các đồng chí trong Tổ công tác và có những lời lẽ lăng mạ, thách thức nhằm gây áp lực và dùng tay xô đẩy Tổ công tác để giải vây cho L. Trong lúc xô xát với Tổ công tác, đồng chí Trung tá Phạm Minh T4 – Cán bộ Đội An ninh bị giật rơi bảng tên Công an nhân dân đeo trên ngực phải trang phục Công an. Sau đó, Tổ công tác 363 đã phối hợp Công an P, quận G đến khống chế và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ nội dung vụ việc và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S. Riêng Nguyễn Thị Thu H1 rời khỏi hiện trường và đón xe về quê nghỉ tết. Ngày 29/4/2024, H1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G làm việc (BL:187-198).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu (BL:261-302).

Vật chứng vụ án: 03 USB chứa dữ liệu hình ảnh vụ việc.

Tại bản cáo trạng số 221/Ctr-VKS, ngày 08/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố các bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án đã đề nghị:

  • - Xử phạt bị cáo Trần Ngọc L từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Xử phạt Trịnh Thanh L3 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Xử phạt Mã Tuấn M từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Xử phạt Đặng Công S từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Xử phạt Đặng Thị Thu H3 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  • - Xử phạt Lê Triệu V từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  • - Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 3 USB ghi hình ảnh sự việc.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đối chiếu lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. các đồng chí Phan Thanh N1, Phan Minh T5, Trần Phong N2, Lê Đức K, Đinh Trọng N3, Nguyễn Văn Q1 đang là công an thuộc tổ 363 công an quận G làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn quận G thì các bị cáo L, L3,V, M, S, H1 có hành vi chống đối, có lời lẽ lăng mạ, thách thức, xô đẩy các đồng chí Công an đang thi hành công vụ, giật rơi bản tên của Trung tá Phạm Minh T4 – Cán bộ Đội An ninh công an quận G đeo trên ngực phải trang phục Công an nhân dân . Hành vi của các Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 đủ yếu tố cấu thành tội chống người thi hành công vụ, do đó Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 điều 330 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người đang thi hành công vụ được pháp luật, Nhà nước bảo hộ và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý trật tự xã hội trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Hành vi phạm tội của các bị cáo hết sức táo bạo, liều lĩnh thể hiện ý thức rất xem thường pháp luật. Vì vậy, đối với các bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi đã thực hiện, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Trong vụ án này có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn bị cáo Trịnh Thanh L3 điều khiển xe máy biển số 59G2 – 22647 chở Trần Ngọc L ngồi sau, cả hai không đội nón bảo hiểm nên tổ công tác 363 công an quận G yêu cầu dừng xe để kiểm tra, các bị cáo L, L3 không chấp hành mà còn chống đối có lời lẽ lăng mạ các đồng chí công an đang làm nhiệm vụ, các bị cáo Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 là bạn của bị cáo L có hành vi lăng mạ, cản trở các đồng chí công an đang làm nhiệm vụ, mục đích để giải vây cho các bị cáo L3 và Lưu không bị kiểm tra, xử phạt hành chính về hành vi không đội nón bảo hiểm.

Đối với các bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 lẽ ra phải chịu mức hình phạt tương xứng với tội lỗi của bị cáo nhưng xét thấy gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt lẽ ra các bị cáo phải chịu. Hội đồng xét xử nhận thấy trong thời gian tạm giam các bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Mã Tuấn M, Đặng Công S từ ngày 06/02/2024 đến nay cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Mã Tuấn M, Đặng Công S ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng mức án bằng với thời gian tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 trong thời gian tạm giam từ ngày 21/5/2024 đến nay cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và Lê Triệu V hiện đang mang thai, trong thời gian tại ngoại bị cáo V không phạm thêm tội mới, chấp hành nghiêm chỉnh giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng và qua đề nghị của đại diện viên kiểm sát cho các bị cáo H1, V được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 và Lê Triệu V ra khỏi xã hội, cho các bị cáo được hưởng mức án có thời gian thử thách lâu dài cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện các người liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 03 USB ghi hình ảnh các bị cáo chống người thi hành công vụ là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Lê Triệu V, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”;

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc L 07(bảy) tháng 13(mười ba) ngày tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 05/02/2024.

Xử phạt bị cáo Trịnh Thanh L3 07(bảy) tháng 13(mười ba) ngày tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 05/02/2024.

Xử phạt bị cáo Mã Tuấn M 07(bảy) tháng 13(mười ba) ngày tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 05/02/2024.

Xử phạt bị cáo Đặng Công S 07(bảy) tháng 13(mười ba) ngày tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 05/02/2024.

Xử phạt bị cáo Lê Triệu V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm. Tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H1 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm. Tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  • - Áp dụng khoản 4 và khoản 5 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa đối với các bị cáo Trần Ngọc L, Trịnh Thanh L3, Mã Tuấn M, Đặng Công S, Nguyễn Thị Thu H1 nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Áp dụng Điều 47, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • · Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 3 USB ghi hình ảnh sự việc.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

(Chủ tọa đã giải thích chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND. TPHCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Thi hành án Q. Gò Vấp;
  • - Công an Q. Gò Vấp;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HSST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 217/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Lưu và đồng bọn phạm tội “Chống người thi hành công vụ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger