|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 217/2024/HS-ST
Ngày: 12/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Kế Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn
Bà Hoàng Phương Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2024/TLST-HS ngày 28/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST- HS ngày 29/8/2024, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Đức T, Sinh năm: 09/12/1996; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Ông Nguyễn Văn T1 (đã chết 2004), mẹ đẻ: Bà Phạm Thị D; Gia đình có bị cáo có hai anh em bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 22/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố H – có mặt tại phiên tòa;
-
Họ và tên: Lê Hải A, sinh năm: 13/2/2005; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn P, Thị trấn S, huyện S, thành phố L; Nghề nghiệp: Sinh viên trường G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Ông Lê Văn T2, mẹ đẻ: Bà Trịnh Thị X; Gia đình bị cáo là con duy nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 22/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố H – có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Phùng H, sinh năm 1990; Nơi Đăng ký thường trú và cư trú: Số B, ngõ D đường X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08h30 ngày 21/6/2024, tổ công tác Công an phường X, quận B làm nhiệm vụ tại khu vực đường M thuộc địa phận phường X, quận B, thành phố Hà Nội, khi đi đến khu vực trước sảnh tòa nhà N04A khu ngoại giao đoàn phát hiện lái xe ôm của hãng “Be” là Giáp Văn S có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại móc treo xe máy Yamaha Sirius màu đen bạc BKS 30K2-0377 do Sinh điều khiển có 01 túi giấy, mở bên trong có 01 hộp vải đựng 01 gói nilong chứa thảo mộc khô nghi là ma túy. Tại chỗ S khai nhận đơn hàng nêu trên của một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0913.019.xxx từ số D ngõ D N, phường N, quận T để giao cho một người sử dụng số điện thoại 0564.215.xxx ở khu vực tòa N04A khu Ngoại giao đoàn. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật đưa các đối tượng về trụ sở để tiếp tục làm rõ. (BL 53,54,59)
Quá trình dẫn giải chỉ địa điểm xác định Giáp Văn S nhận đơn hàng từ Lê Hải A ở số D ngõ D N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội. Lê Hải A khai thảo mộc khô trên là ma túy cần sa do Nguyễn Đức T đưa để giao cho khách (BL 63). Dẫn giải Lê Hải A đến nơi nhận ma túy xác định Nguyễn Đức Toàn là người đưa cho Hải A gói cần sa tại số 50 đường Nhân Hòa, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội ngoài ra qua khám xét còn thu giữ được một gói nilong chứa thảo mộc khô nghi là cần sa từ Toàn. (BL 65, 95,96)
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được ngày 22/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp với Nguyễn Đức T, Lê Hải A về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. (BL 26-50)
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Giáp Văn S (BL 67-68) 01 (một) xe máy Yamaha Sirius màu xanh, BKS: 30K2-0377 số máy 225084, số khung 225082 đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại Galaxy J6 màu đen lắp số thuê bao 0988.004.764
- 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước 10x15 cm bên trong chứa thảo mộc khô để trong hộp hình vuông màu nâu kích thước 10x10 cm để trong túi giấy.
Thu giữ của Lê Hải A: (BL 69) 01 (một) điện thoại di động iPhone 11 Promax màu xanh, mặt lưng phía sau vỡ kính, lắp số thuê bao 0913.019.396 đã qua sử dụng.
Thu giữ của Nguyễn Phùng H: (BL 70) 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 4 màu đen, bên trong máy có lắp sim: 056.421.5xxx đã qua sử dụng.
Thu giữ của Nguyễn Đức T: (BL 71-72)
- 01 (một) điện thoại di động Galaxy A32 màu trắng lắp số thuê bao: 0965.181.142, số thuê bao 2: 0795659930 đã qua sử dụng.
- 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước 10x15 cm bên trong chứa thảo mộc khô để trong hộp hình vuông màu nâu kích thước 10x10 cm để trong túi giấy.
Ngày 21/6/2024, cơ quan CSĐT công an quận Bắc Từ Liêm ra quyết định trưng cầu giám định số 3111 trưng cầu số ma túy đã thu giữ.
Kết luận giám định số 4811 ngày 30/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Thảo mộc khô bên trong 01 gói nilong (để trong 01 túi giấy) là Cần sa, khối lượng 5,020 gam. (Thu giữ từ Giáp Văn S).- Thảo mộc khô bên trong 01 gói nilong (để trong 01 túi giấy) là Cần sa, khối lượng 10,050 gam (Thu giữ từ Nguyễn Đức T). Tổng khối lượng là 15,070 gam Cần sa (BL 71-81)
Quá trình điều tra xác định: Khoảng giữa năm 2023, Nguyễn Đức T và Lê Hải A quen biết nhau do cùng làm một quán café và cả hai đều sử dụng ma túy cần sa, đến giữa tháng 06/2024, do thiếu tiền tiêu xài, không có công việc ổn định nên ngày 18/6/2024, Toàn rủ Hải A cùng nhau bán cần sa kiếm lời. T là người mua ma túy còn Hải A là người giao ma túy cho khách, mỗi đơn giao thành công thì T trả Hải A 300.000 đồng, Hải A đồng ý. Sáng ngày 20/6/2024, Toàn vào ứng dụng Telegram tìm mua được 15 gam Cần sa (một túi 10 gam và một túi 05 gam) của một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 1.500.000 đồng. Khoảng 11h cùng ngày, một nam thanh niên xe ôm “Grab” đến giao cho Toàn tại ngõ 80 đường Nhân Hòa, Toàn thanh toán tiền mặt và xóa lịch sử giao dịch mua ma túy qua ứng dụng Telegram. Sau đó T đăng bài lên các hội nhóm qua ứng dụng mạng Telegram để bán Cần sa kiếm lời.
Đến khoảng 15h ngày 20/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy Nguyễn Phùng H truy cập mạng Telegram tìm mua ma túy cần sa, qua nói chuyện với một tài khoản “Love” (không rõ nhân thân lai lịch) H hỏi mua được 05 (năm) gam cần sa với giá 1.450.000 đồng chưa tính công vận chuyển. H cho người bán địa chỉ nhận ma túy tại khu vực tòa nhà N04A khu ngoại giao đoàn, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội với số điện thoại nhận ma túy của H là 0564.215.867.
Chiều ngày 20/6/2024, T nhận được đơn hàng qua ứng dụng Telegram của một tài khoản (không rõ nhân thân lai lịch) mua 05 gam cần sa và hẹn giao ma túy cần sa ở khu vực tòa N04A ngoại giao đoàn, số điện thoại nhận ma túy của Nguyễn Phùng H là 0564.215.867. T đồng ý bán với giá 1.100.000 đồng, người hỏi mua thỏa thuận nhận được hàng rồi thanh toán sau qua chuyển khoản ngân hàng thì T đồng ý. Sau đó T hẹn Hải A ở số 50 Nhân Hòa, phường Nhân Chính, quận Cầu Giấy để giao ma túy cho Hải A để nhờ người mang đi vận chuyển. Hải A đồng ý. Khi gặp nhau T đưa Hải A 01 túi giấy chứa hộp vải đựng cần sa, Hải A mở ra xem rồi nhận thông tin khách mua từ T. Khoảng 19h30 ngày 20/6/2024, Hải A mang ma túy ra số 4 ngõ 44 Nhân Hòa đặt ứng dụng giao hàng “Be”, Giáp Văn S là người nhận chuyến giao hàng với giá 98.000 đồng. Khi Hải A đưa ma túy và thông tin địa chỉ người nhận hàng, Hải A nói với anh S hàng hóa trong túi là đồ phong thủy. Anh S đồng ý. Khi anh S mang đơn hàng đến điểm giao, do Nguyễn Phùng H bận chưa nhận được ma túy. Khoảng 08h30 ngày 21/6/2024, S giao lại đơn hàng bên trong có chứa ma túy cần sa nhưng chưa giao được cho Nguyễn Phùng H thì bị lực lượng Công an phát hiện cùng vật chứng.Tại cơ quan điều tra Nguyễn Đức T, Lê Hải A khai nhận hành vi như nêu trên và khai đây là lần đầu tiên mua bán trái phép chất ma tuý. T đã tự nguyện giao nộp thêm một túi ma túy chứa cần sa mà T đang cầm. Đó là số ma túy T đang cất giấu nếu ai hỏi mua thì T sẽ bán để kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện. (BL 130-140, 141-146, 147-152, 153-158, 159- 160)Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Đức T quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý. (BL 64)Đối với đối tượng “Love”, đối tượng nhắn tin cho Nguyễn Đức T đặt mua ma túy để giao cho Nguyễn Phùng H, T khai sau khi thỏa thuận xong T đã xóa toàn bộ lịch sử tin nhắn và hiện không nhớ tên đăng nhập của đối tượng, kiểm tra tin nhắn của Nguyễn Đức T không phát hiện thông tin liên quan đến đối tượng đặt mua ma túy của T để giao cho H nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ xử lý (BL 86- 91)Đối với Nguyễn Phùng H có hành vi đặt mua ma tuý của Nguyễn Đức T và Lê Hải A tuy nhiên chưa nhận ma túy, chưa thanh toán tiền, kiểm tra ma túy trong cơ thể Nguyễn Phùng H cho kết quả âm tính nên Cơ quan CSĐT Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ xử lý. (BL 159 - 175)
Đối với anh Giáp Văn S khai bản thân làm nghề giao hàng xe ôm công nghệ, anh S không biết đơn hàng Hải A thuê đi giao bên trong có chứa ma túy cần sa, S không có quan hệ gì với Lê Hải A, Nguyễn Đức T nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ xứ lý đối với anh S. (BL 141-146)Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 30K2-0377, 01 điện thoại Galaxy J6 màu đen lắp số thuê bao 0988.004.764 tạm giữ của Giáp Văn S. Quá trình điều tra xác định anh Giáp Văn S là chủ sở hữu, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho anh S 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 30K2-0377, 01 điện thoại Galaxy J6 màu đen lắp số thuê bao 0988.004.764. Anh S đã nhận được tài sản và không có ý kiến gì. (BL 20-25)Đối với số ma túy, điện thoại thu giữ của Nguyễn Đức T, Lê Hải A, Nguyễn Phùng H quá trình điều tra xác định là vật chứng liên quan trực tiếp đến vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số 212/CT-VKSBTL ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Hải A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của các bị cáo đã kết luận, giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 30 đến 36 tháng tù, Lê Hải A từ 24 đến 30 tháng tù.
Miễn phạt tiền cho các bị cáo vì các bị cáo không có thu nhập ổn định.
Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn trả sau thu mẫu giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Giáp Văn S giám định viên và cán bộ Công an phường; 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn trả sau thu mẫu giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Đức T giám định viên và cán bộ Công an phường;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 4 màu đen số thuê bao: 0564215867; Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 pro max màu xanh số thuê bao: 0913019396; Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, mặt lưng phía sau bị vỡ kính bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Glaxy A32 màu trắng bị nứt vỡ màn hình số thuê bao: 0965181142; 0795659930 Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Ngày 18/6/2024, Nguyễn Đức T thống nhất với Lê Hải A về việc T mua ma túy về bán và Hải A sẽ đi giao ma túy cho khách, mỗi đơn hàng thành công thì T trả cho Hải A 300.000 đồng, Hải A đồng ý. Ngày 20/6/2024, Nguyễn Đức T mua 15,070 gam ma túy Cần sa về bán, T giao cho Hải A 5,020 gam Cần sa đi giao cho Nguyễn Phùng H. Khi người xe ôm cầm ma túy đi giao cho Nguyễn Phùng H thì bị cơ quan Công an quận Bắc Từ Liêm phát hiện cùng vật chứng. Khám xét nơi ở của Nguyễn Đức T Cơ quan điều tra đã thu giữ 10,020 gam ma túy cần sa. Hành vi nêu trên của bị cáo T, Hải A cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào bản kết luận giám định số 4811 ngày 30/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Thảo mộc khô bên trong 01 gói nilong (để trong 01 túi giấy) là Cần sa, khối lượng 5,020 gam. (Thu giữ từ Giáp Văn S).- Thảo mộc khô bên trong 01 gói nilong (để trong 01 túi giấy) là Cần sa, khối lượng 10,050 gam (Thu giữ từ Nguyễn Đức T). Tổng khối lượng là 15,070 gam Cần sa.
Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
[2] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa hôm nay đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên các bị cáo đều được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo T, bị cáo Hải A là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, mua bán ma túy là một trong các nguyên nhân và điều kiện để phát sinh nhiều loại tội phạm khác và gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống, hạnh phúc của nhiều gia đình các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán ma túy là nguy hiểm cho xã hội mà vẫn thực hiện do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Căn cứ vào bản kết luận giám định số 4811 ngày 30/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Thảo mộc khô bên trong 01 gói nilong (để trong 01 túi giấy) là Cần sa, khối lượng 5,020 gam. (Thu giữ từ Giáp Văn S).- Thảo mộc khô bên trong 01 gói nilong (để trong 01 túi giấy) là Cần sa, khối lượng 10,050 gam (Thu giữ từ Nguyễn Đức T). Tổng khối lượng là 15,070 gam Cần sa thu giữ của bị cáo T, bị cáo Hải A.
Bị cáo T, Hải A không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại ma túy mà các bị cáo mua bán, căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Các bị cáo thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn. Khi lượng hình đánh giá vai trò thì các bị cáo thấy bị cáo T có vài trò cao hơn bị cáo Hải A. Do đó cần xử bị cáo T cao hơn bị cáo Hải A mới có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo đều là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn trả sau thu mẫu giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Giáp Văn S giám định viên và cán bộ Công an phường; 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn trả sau thu mẫu giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Đức T giám định viên và cán bộ Công an phường;
Các bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sử dụng điện thoại vào giao dịch mua bán ma túy do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 4 màu đen số thuê bao: 0564215867; Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 pro max màu xanh số thuê bao: 0913019396; Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, mặt lưng phía sau bị vỡ kính bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Glaxy A32 màu trắng bị nứt vỡ màn hình số thuê bao: 0965181142; 0795659930 Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong.
[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX nên xử các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Xử lý tang vật như Viện Kiểm sát đề nghị là đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1,2 Điều 51 Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Hải A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/6/2024.
- Xử phạt bị cáo Lê Hải A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/6/2024.
Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 298, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn trả sau thu mẫu giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Giáp Văn S giám định viên và cán bộ Công an phường; 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn trả sau thu mẫu giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Đức T giám định viên và cán bộ Công an phường;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 4 màu đen số thuê bao: 0564215867; Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 pro max màu xanh số thuê bao: 0913019396; Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, mặt lưng phía sau bị vỡ kính bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Glaxy A32 màu trắng bị nứt vỡ màn hình số thuê bao: 0965181142; 0795659930 Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số thuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo Biên bản giao vật chứng số 271/24 ngày 11/9/2024.
- Về án phí: Bị cáo T, Hải A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo T, Hải A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phùng H có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi của anh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Kế Hiền |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Hải A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
