Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2024/HS-ST

Ngày 11 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Phạm Thị Hiền

Bà Hồ Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 tháng 8 năm 2024 và ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 173/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/HSST – QĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Đàm Quang H; sinh ngày 01 tháng 8 năm 1988, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ C, khu Y, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ C, khu F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Quang H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Lê Ngọc A, có 02 con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 12/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 07/6/2016 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 20/6/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 26/8/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Đã chấp hành xong toàn bộ 02 bản án.

Bị cáo đầu thú và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoàn xuất cảnh, có mặt.

- Bị hại: Anh Liêu Văn H2, sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn A, xã Q, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người làm chứng: chị Liêu Thị Thanh H3 - có mặt.

- Người chứng kiến: ông Trương Thanh H4 - có mặt.

- Điều tra viên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H tham gia phiên tòa: ông Trần Triệu T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 13/02/2024, Đàm Quang H đang ở nhà thì có 01 người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen đến nhà H, rủ H đến khu vực xã D, thành phố H chơi thì H đồng ý. Khi đi H mặc áo khoác dài tay tối màu, quần bò dài sáng màu, đeo giày vải màu đen, đeo khẩu trang màu xanh, đội mũ bảo hiểm loại cả đầu màu bạc. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, người đàn ông này chở H đi vào khu vực xã Q, thành phố H. Cả hai men theo đường bê tông dẫn đến 01 khu vực vắng người qua lại, khi đi đến cuối đường thì thấy nhà ông Liêu Văn H2 thuộc thôn A, xã Q, thành phố H không có cổng, đóng kín cửa, không có người trong nhà. Lúc này, người đàn ông dừng xe ở sân cách cửa nhà ông H2 khoảng 3,5m rồi bảo H “mày đứng quay đầu xe, trông người để anh cạy cái cửa nhà này xem có gì không để anh lấy” thì H đồng ý. Quá trình cảnh giới, H có ngoài đầu lại thấy người này dùng 01 con dao dạng dao Thái Lan cạy cửa, đi vào bên trong nhà. Khoảng 10 phút sau, người này dắt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 14H4-3584 từ trong nhà ra rồi bảo H điều khiển chiếc xe Yamaha Sirius đi theo sau. Người đàn ông điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được đi theo hướng ra cổng thôn A, xã Q, theo quốc lộ B hướng về xã B rồi cả hai rẽ sang phường V, thành phố U. Khi về đến nhà của người đàn ông, thì người này nói với H là đã giấu chiếc xe mô tô trộm cắp được đi, khi nào mọi chuyện lắng xuống sẽ đem bán rồi chia tiền.

Ngày 17/02/2024, Đàm Quang H đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, H còn khai: người đàn ông đi cùng H là Nguyễn Văn P, sinh năm 1976, trú tại: tổ G, khu I, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh là bạn quen biết xã hội, trước đây đã từng đi trộm cắp tài sản cùng với H.

Tại Kết luận định giá số 27 ngày 18/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: Giá trị của 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-xám, biển số 14H4-3584 là 2.875.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 3044/CT-VKSHL ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, đã truy tố bị cáo Đàm Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và khung hình phạt. Do tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đại diện Viện kiểm sát rút quan điểm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã đề cập. Về hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án được trừ đi thời hạn đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2024 đến ngày 12/3/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy chiếc áo khoác màu xanh; 01 chiếc quần dài, loại quần bò; 01 đôi giày vải màu xám, đế giày màu trắng do Đàm Quang H giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Liêu Văn H2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 7.000.000 đồng cho chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-xám, biển số 14H4-3584 của ông do các bị cáo trộm cắp ngoài số tiền 5.000.000 đồng ông đã được nhận của gia đình bị cáo tại cơ quan điều tra. Xét trị giá chiếc xe theo Kết luận định giá số 47 ngày 25/3/2024 là 2.875.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cao hơn mức định giá của Hội đồng định giá đã xác định, như vậy yêu cầu của ông H2 là không hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu bồi thường của ông H2. Đối với tài sản khác ông H2 khai tại cơ quan điều tra bị mất: 01 chiếc nhẫn tròn làm từ vàng 9999, trọng lượng 0,5 chỉ; 01 chiếc dây chuyền làm từ vàng 9999, trọng lượng 03 chỉ và khoảng 70.000.000 đồng, ông H2 không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường trong vụ án này nên không đề nghị xem xét xử lý.

* Tại phiên tòa, bị hại ông Liêu Văn H2 trình bày: vào khoảng 17 giờ ngày 13/02/2024, khi gia đình ông từ quê ngoại trở về nhà thì phát hiện nhà bị mở, khoá cửa bị phá. Qua kiểm tra ông phát hiện bị mất tài sản bao gồm: xe mô tô Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 14H4-3584, đăng ký xe mang tên Liêu Văn H2; 01 chiếc nhẫn tròn làm từ vàng 9999, trọng lượng 0,5 chỉ; 01 chiếc dây chuyền làm từ vàng 9999, trọng lượng 03 chỉ và số tiền khoảng 70.000.000 đồng. Ông H2 đã trình báo sự việc với cơ quan Công an và sau đó được cơ quan công an thông báo đã xác định được bị cáo Đàm Quang H là người trộm cắp tài sản. Đến nay, bị cáo H đã bồi thường thiệt hại chiếc xe mô tô bị mất cho ông số tiền 5.000.000 đồng, ông H2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho ông số tiền 7.000.000 đồng. Lý do ông yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền này là tại thời điểm ông mua mới chiếc xe giá trị là 12.000.000 đồng. Đối với tài sản: 01 chiếc nhẫn tròn làm từ vàng 9999, trọng lượng 0,5 chỉ; 01 chiếc dây chuyền làm từ vàng 9999, trọng lượng 03 chỉ và số tiền khoảng 70.000.000 đồng, ông H2 không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường trong vụ án này. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe tội phạm.

* Phần trình bày của ông Trần Triệu T2 – Điều tra viên được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án: quá trình điều tra, bị cáo Đàm Quang H hoàn toàn khai báo tự nguyện, việc hỏi cung, lấy lời khai đều được bị cáo đồng ý cho ghi âm. Việc lập các Biên bản làm việc về nội dung: tổ chức cho Đàm Quang H chỉ dẫn vị trí, mô tả, hành vi, lời nói khi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhà ông H2 đều có sự chứng kiến của người chứng kiến. Hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, các tài liệu, văn bản tố tụng đều thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bị cáo H không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi của điều tra viên, kiểm sát viên hay cơ quan tiến hành tố tụng.

* Người chứng kiến ông Trương Văn H5 có lời khai tại phiên tòa xác nhận: bị cáo Đàm Quang H đúng là người đã chỉ dẫn vị trí, mô tả hành vi, lời nói của H và đối tượng tên “P” khi vào nhà ông Liêu Văn H2 trộm cắp tài sản. Ông H5 và rất nhiều người dân xung quanh đều chứng kiến việc H mô tả và diễn lại sự việc đối tượng tên P chở thẳng H vào trong sân nhà ông H2, khi cách cửa gỗ nhà ông H2 3,5m thì dừng lại và nói và hành động như trong các Biên bản làm việc mà cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã lập. Ông H5 xác nhận ký người chứng kiến, đồng thời đóng vai “P” hoặc “H” theo đúng chỉ dẫn của bị cáo.

*Quá trình điều tra, bị cáo Đàm Quang H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. H khai không bàn bạc trước với đối tượng “Nguyễn Văn P” về việc trộm cắp tài sản mà chỉ khi P chở H vào sân nhà ông Liêu Văn H2 và nói về việc sẽ vào nhà ông H2 để trộm cắp tài sản, do đang thiếu tiền chi tiêu nên H đồng ý và cảnh giới để P thực hiện. H chỉ được biết P đã lấy chiếc mô tô xe mô tô Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 14H4-3584 của ông H2 và cũng trực tiếp đi cùng P đem chiếc xe này về nhà P tại tổ G, khu I, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh để. Ngoài chiếc mô tô nêu trên, P không nói cho H biết P đã trộm cắp thêm được gì khác ở trong nhà ông H2. Tại phiên tòa, bị cáo H xác nhận mình bị truy tố và xét xử về tội “trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, quá trình khai báo và tại phần tranh luận với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo phủ nhận lời khai của mình tại cơ quan điều tra về tình tiết: bị cáo không đứng trong sân nhà ông H2 cảnh giới cho “P” mà bị cáo đứng ngoài đường bê tông phía trước nhà ông H2. Việc P vào nhà ông H2 có những hành vi cụ thể như thế nào H không được biết. Chỉ biết khi ra khỏi nhà ông H2, “P” dắt theo chiếc xe mô tô Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 14H4-3584 và bảo P đi theo về nhà P tại phường T, U. H xác nhận lời khai việc P hứa hẹn với H nếu bán xe trộm cắp được sẽ chia tiền cho H sau tại cơ quan điều tra là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo hứa quyết tâm sửa chữa, tu dưỡng bản thân làm một người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo công nhận mình phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xác nhận về thời gian, địa điểm bị cáo đi cùng đối tượng tên “P” đến nhà ông H2 vào khoảng trưa ngày 13/02/2024 như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Tuy nhiên, bị cáo không công nhận việc mình vào đứng trong sân nhà bị hại ông Liêu Văn H2 để cảnh giới cho “P” thực hiện việc trộm cắp tài sản mà đứng ngoài đường bê tông phía trước nhà ông H2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; mâu thuẫn với lời khai của người chứng kiến ông Trương Văn H5 đã xác nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra lập các Biên bản làm việc về nội dung tổ chức cho bị cáo chỉ dẫn vị trí, mô tả, hành vi lời nói khi thực hiện tội phạm là khách quan và theo đúng sự chỉ dẫn, mô tả của bị cáo. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra hoàn toàn phù hợp với các Biên bản xác định hiện trường, các Bản ảnh có trong hồ sơ thể hiện: việc bị cáo đứng trong sân nhà ông H2 cách cửa gỗ chính khoảng 3,5m cảnh giới cho đối tượng tên P, để “P” cầm dao cạy phá cửa lẻn vào nhà ông H2 trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa, bị cáo Đàm Quang H đã được xem và nghe lại các bản ghi âm, ghi hình khi cơ quan điều tra tiến hành hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo. Bị cáo xác nhận lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Như vậy, lời khai của bị cáo mặc dù có mâu thuẫn về quá trình thực hiện tội phạm nhưng căn cứ vào lời khai của bị hại, người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ của vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để xác định: khoảng 11 giờ 50 phút ngày 13/02/2024, tại nhà ông Liêu Văn H2 thuộc thôn A, xã Q, thành phố H, Đàm Quang H đã lợi dụng sơ hở lấy trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen xám, BKS 14H4-3584, trị giá 2.875.000 đồng (Bằng chữ: hai triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) của ông Liêu Văn H2.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì thấy: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, nhưng do ham chơi, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên không chịu tu dưỡng bản thân làm người công dân có ích cho xã hội mà sa vào con đường phạm tội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo đầu thú, tự nguyện tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, đã chấp hành án phạt tù 02 lần về tội “trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nhưng vẫn tiếp tục phạm tội cho thấy sự coi thường pháp luật và không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo.

[5] Về hình phạt chính: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại ông Liêu Văn H2 yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 7.000.000 đồng đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-xám, biển số 14H4-3584. Hội đồng xét xử đã giải thích về yêu cầu của ông H2 nếu không được Tòa án chấp nhận thì phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông H2 vẫn giữ yêu cầu bồi thường, ông cho rằng tại thời điểm ông mua mới chiếc xe giá là 12.000.000 đồng. Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 18/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: giá trị của 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-xám, biển số 14H4-3584 là 2.875.000 đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cao hơn giá trị mà Hội đồng định giá tài sản đã định giá. Như vậy, yêu cầu bồi thường thêm số tiền 7.000.000 đồng giá trị chiếc xe như tại thời điểm mua mới của ông H2 là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[8] Về xử lý tài sản, vật chứng trong vụ án: 01 chiếc áo khoác màu xanh, có khóa kéo, phần ngực áo bên trái có dòng chữ “THIELT”; 01 chiếc quần dài, loại quần bò màu xanh, túi quần phía sau bên phải có thêu nhiều màu; 01 đôi giày vải màu xám, đế giày màu trắng do Đàm Quang H tự nguyện giao nộp, bị cáo không đề nghị nhận lại và không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên, chứng cứ buộc tội, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

[10] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: đối với việc Đàm Quang H khai người đi cùng H để trộm cắp tài sản của nhà ông Liêu Văn H2 là Nguyễn Văn P; trú tại: tổ G, khu I, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Do hiện nay P không có mặt tại nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm, nhưng chưa có kết quả, nên đã tách vụ án tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với việc, bị hại ông Liêu Văn H2 khai còn bị mất 01 chiếc nhẫn tròn làm từ vàng 9999, trọng lượng 0,5 chỉ; 01 chiếc dây chuyền làm từ vàng 9999, trọng lượng 03 chỉ và số tiền khoảng 70.000.000 đồng. Ông H2 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị hại ông Liêu Văn H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đàm Quang H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam bị cáo từ ngày 18/02/2024 đến ngày 12/3/2024.

2. Về xử lý tài sản, vật chứng: căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác màu xanh, có khóa kéo, phần ngực áo bên trái có dòng chữ “THIELT”; 01 chiếc quần dài, loại quần bò màu xanh, túi quần phía sau bên phải có thêu nhiều màu; 01 đôi giày vải màu xám, đế giày màu trắng, đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 248/BB-THA ngày 30/7/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c, e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đàm Quang H phải nộp 200.000₫ (Bằng chữ: hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị hại ông Liêu Văn H2 phải chịu 350.000đ (Bằng chữ: ba trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Viện kiểm sát NDTP Hạ Long, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hạ Long; Cơ quan THAHS công an TP Hạ Long
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - Sở tư pháp
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hồ Thị Lan – Phạm Thị Hiền

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 217/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger