TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 217/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2024
“V/v Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Kiều Loan;
- Bà Lê Thị Xuân Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 512/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1974;
- Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Tạm trú: Đường A, khu dân cư T, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969;
- Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Tạm trú: Đường A, khu dân cư T, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- (Bà L có đơn đề nghị vắng mặt, ông B vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2024 và bản tự khai, nguyên đơn bà Đặng Thị L trình bày: Bà L và ông B là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 23/7/2007. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên về sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong công việc, tình cảm rạn nứt, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì quan hệ hôn nhân nên Bà L khởi kiện yêu cầu:
Về tình cảm: bà Đặng Thị L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn P, sinh ngày 02/01/1993 và cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 14/6/2000. Hiện 02 con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn B vắng mặt trong suốt quá trình thụ lý giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Nguyễn Văn B theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông B biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với Bà L nhưng ông B không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn B vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi kiện của bà L và xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà L bận việc nên có đơn đề nghị xử vắng mặt. Tòa án quyết định xử vắng mặt nguyên đơn quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Đặng Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn B, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nơi bị đơn cư trú thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về tố tụng: Bà Đặng Thị L bận việc nên có đơn đề nghị xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn B vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo qui định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về tình cảm: Xét quan hệ hôn nhân Bà L, ông B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 23/7/2007 nên hôn nhân giữa Bà L với ông B là hợp pháp theo qui định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu ly hôn của Bà L đối với ông B: Bà L cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống và công việc, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà L thấy tình nghĩa vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Tòa án đã tiến hành tống đạt mời ông Nguyễn Văn B, ông B biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà L nhưng ông B không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải cho thấy ông B không có thiện chí hàn gắn. Từ đó, Hội đồng xét xử xét hôn nhân giữa bà Đặng Thị L với ông Nguyễn Văn B đã mâu thuẫn trầm trọng nên Bà L yêu cầu xin ly hôn với ông B là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Bà L trình bày trong quá trình chung sống giữa Bà L với ông B có 02 con chung tên Nguyễn Văn P, sinh ngày 02/01/1993 và cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 14/6/2000. Hiện Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn Q đã trưởng thành nên không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung: Bà L xác định không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Bà L xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến về tình cảm, con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết. Nếu sau này, giữa Bà L và ông B có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì các bên được quyền khởi kiện để giải quyết trong một vụ án khác.
[3].Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
Buộc nguyên đơn bà Đặng Thị L phải chịu án phí ly hôn sung ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Thị L đối với ông Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Hiện 02 con chung là Nguyễn Văn P, sinh ngày 02/01/1993 và Nguyễn Văn Q, sinh ngày 14/6/2000 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Bà Đặng Thị L không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Về nợ chung: Bà Đặng Thị L trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: bà Đặng Thị L phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí Bà L đã nộp theo biên lai số 0001007 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành. Bà Đặng Thị L đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.
Bà Đặng Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Linh Duy |
Bản án số 217/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 217/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đặng Thị L ly hôn ông Nguyễn Văn B
