|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 217/2024/HS-ST Ngày: 16/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- - Bà Đỗ Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa:
Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Thảo – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 238/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trương Thị Ngọc H, tên gọi khác: không, sinh ngày: 10/9/1979, tại An Giang; Nơi cư trú: 4 H, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Con ông Trương Ngọc L, sinh năm: 1946 và bà Phan Thị T, sinh năm: 1949; Chồng tên Nguyễn Việt T1, sinh năm: 1990; Bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 2004 và nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/3/2009 bị Cơ quan Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 80.000 (tám mươi ngàn) đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo đóng phạt theo biên lai thu tiền số 0001682 ngày 16/7/2009. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Việt T1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 01/01/1990, tại Cà Mau; Nơi cư trú: 4 H, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tú Q (đã chết); Vợ tên Trương Thị Ngọc H, sinh năm: 1979; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Trương Thị Ngọc N, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 24/11/1970, tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: A C, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông Trương Ngọc L, sinh năm: 1946 và bà Phan Thị T, sinh năm: 1946; Chồng tên Hoàng Xuân H1, sinh năm: 1972; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999 và nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Lê Thị Hương L1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 04/02/1977, tại Thanh Hoá. Nơi cư trú: I Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Trần M (đã chết) và bà Trịnh Thị S, sinh năm: 1952. Chồng tên Nguyễn Anh D, sinh năm: 1972. Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thành C1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 01/7/1983, tại Thái Nguyên. Hộ khẩu thường trú: B N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở hiện tại: A L, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1955 và bà Phạm Thị P, sinh năm: 1956; Chồng tên Bùi Hữu P1, sinh năm: 1983; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015 và nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Lê Thị Hoài L2, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 24/8/1985, tại Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: 20 C, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Nội trợ. Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Quang T3, sinh năm: 1958 và bà Thân Thị L3, sinh năm: 1962; Chồng tên Lê Quang Đ; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006 và nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Lê Thị T4, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 03/02/1968, tại Lâm Đồng. Hộ khẩu thường trú: 357A Nguyên Tử L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nơi ở hiện tại: 5 N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Lê Văn S1 (đã chết) và bà Mai Thị V, sinh năm: 1940; Chồng tên Trần Xuân H2 (đã chết); Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992 và nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Thanh C2, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 12/02/1964, tại Phú Yên. Hộ khẩu thường trú: 3 N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn D1 (đã chết) và bà Lê Thị H3 (đã chết); Vợ tên Phan Thị Thu H4, sinh năm 1964; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993 và nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc M1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 22/02/1973, tại Lâm Đồng. Hộ khẩu thường trú: 9 P, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Xe ôm. Trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam: Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Ngọc L4 (đã chết) và bà Lê Thị V1; Vợ tên Đoàn Thị Thùy H5, sinh năm: 1972; Có 01 con sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa: Luật sư Lê Cao T5 – Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Địa chỉ: A N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bào chữa cho bị cáo Trương Thị Ngọc H; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 00 ngày 29/12/2023, Trương Thị Ngọc H vào khu vực chợ Đ1 Center thu tiền hàng của các tiểu thương thì gặp chị gái là Trương Thị Ngọc N và một phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch. Người phụ nữ này rủ H6 và N đánh bài ăn tiền thì H, N đồng ý. Lúc này H đến mở cốp xe máy lấy 01 bộ bài tây rồi đi đến vị trí gần cầu thang đi xuống tầng hầm dọn dẹp khu vực để chuẩn bị địa điểm đánh bạc. Sau khi chuẩn bị xong, H đem 01 bộ bài tây ra làm cái rồi thống nhất với các con bạc đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức “bài cào". Hình thức đánh bạc cụ thể như sau: Người làm cái sẽ dùng bộ bài tây 52 lá chia đều cho người tham gia chơi mỗi người 03 lá bài, tính thắng thua lần lượt: Lớn nhất là 03 lá bài giống nhau (gọi là cào), lần lượt từ lớn đến nhỏ là AAA, KKK, QQQ....đến 222; tiếp theo là 03 lá bài tây (không giống nhau) theo nước lớn nhất là K, nhỏ nhất là J, tiếp theo là tính điểm (03 lá bài cộng lại), lớn nhất là 9 điểm, nhỏ nhất là bù (không điểm), nếu điểm bằng nhau thì so lá bài lớn nhất để tính. Người chơi cược trực tiếp với người làm cái, với mức đặt cược thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 300.000 đồng. Tiền cược tuỳ vào người chơi đặt, không giống nhau, thắng thua sẽ so với nhà cái để tính tiền. H làm cải được khoảng 3 ván thì có thêm Lê Thị Hương L1, Nguyễn Thị Thành C1, Lê Thị Hoài L2, Lê Thị T4, Nguyễn Thanh C2, Nguyễn Ngọc M1 và khoảng 03 người khác không rõ nhân thân, lai lịch tham gia đánh bạc. H tiếp tục làm cái được khoảng 03 ván thì có chồng H là Nguyễn Việt T1 đến tham gia với vai trò là người chỉa bài, còn H là người tỉnh toán chung chỉ thắng thua với các con bạc tham gia.
Đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày, khi các con bạc đánh được khoảng 8 ván do H, T1 làm cái thì bị Phòng PC02- Công an tỉnh L bắt quả tang thu giữ tiền tang trên chiếu bạc là 14.450.000đ (mười bốn triệu bốn trăm năm mươi đồng), 01 bộ bài tây đã qua sử dụng.
Thu giữ của: Trương Thị Ngọc H 01 điện thoại di động OPPO Reno6 màu đen; Nguyễn Thanh C2 số tiền là 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng), 01 điện thoại di động IPhone 11 màu đen, 01 điện thoại di động Samsung S7; Lê Thị Hoài L2 số tiền là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), 01 điện thoại di động IPhone 14 Promax màu trắng; Lê Thị T4 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng; Lê Thị Hương L1 01 điện thoại di động Samsung note10; Nguyễn Ngọc M1 số tiền là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), 01 điện thoại di động OPP A77S màu đen.
Quá trình điều tra xác định số tiền các bị can sử dụng để tham gia đánh bạc cụ thể như sau:
- 1. Trương Thị Ngọc H: mang theo số tiền 8.200.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. H cùng T1 làm cái được khoảng 8 ván, không xác định được thắng hay thua thì bị Công an bắt quả tang. Lúc này H để toàn bộ số tiền đang cầm trên tay dùng để đánh bạc xuống chiếu bạc.
- 2. Nguyễn Việt T1: khoảng 7 giờ 40 ngày 29/12/2023, sau khi đi bỏ bánh cho các tiểu thương trong Chợ Đ1 thì T1 thấy vợ mình là Trương Thị Ngọc H đang cầm cái và chia bài cho các con bạc tại sòng bạc ở tầng hầm Chợ Đà Lạt C với hình thức bài cào ba lá thắng thua bằng tiền. Thấy vợ mình liên tục thua nhiều ván bài, T1 đã cùng vợ tham gia đánh bạc với vai trò là người phát bài cho các con bạc, còn Trương Thị Ngọc H là người tính toán chung chỉ thắng thua với các con bạc tham gia sau mỗi ván bài. Khi T1 tham gia đánh bạc được khoảng 3 đến 4 ván thì bị Công an bắt quả tang, lúc này T1 nhanh chóng ném bải trên tay và chui qua gầm các sạp hàng trong chợ rồi tẩu thoát. Đến ngày 08/01/2023, T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an T để đầu thú khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.
- 3. Trương Thị Ngọc N: Khoảng 7 giờ 00 ngày 29/12/2023, N đến khu vực tầng hầm gần bãi giữ xe của Chợ Đ1 để bỏ bánh thì gặp em gái của mình là Trương Thị Ngọc H. Sau đó, N và H được một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch rủ đánh bạc nên N đã cùng tham gia đánh bạc với người phụ nữ này và H là người làm cái. Khi đánh bạc, N mang theo số tiền 300.000 đồng để tham gia đặt cược khoảng 08 ván bài, mỗi ván 50.000 đồng và không nhớ chính xác việc thắng thua. Đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đang tham gia chơi thì bị Công an bắt quả tang. Vào thời điểm Cơ quan Công an bắt quả tang, N đã đánh bạc thua hết số tiền mang theo.
- 4. Lê Thị Hương L1: Khoảng 7 giờ 30 ngày 29/12/2023, L1 đang bán hàng tại Chợ Đ1 thì thấy tại khu vực tầng hầm gần bãi giữ xe có hơn 10 người đang tham gia đánh bạc với hình thức bài cào ba lá thắng thua bằng tiền. Lúc này, L1 mang theo số tiền 150.000 đồng để tham đánh bạc và sử dụng số tiền này đặt cược 03 ván bài, mỗi ván 50.000 đồng. Đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đang tham gia chơi thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, lúc này L1 thua hết số tiền mang theo.
- 5. Nguyễn Thị Thành C1: Khoảng 7 giờ 10 ngày 29/12/2023, C1 đi chợ Đ1 để mua đồ thì thấy tại khu vực tầng hầm gần bãi giữ xe có hơn 10 người đang tham gia đánh bài cảo thắng thua bằng tiền. Lúc này, C1 mang theo số tiền 200.000 đồng để tham gia đánh bạc và sử dụng số tiến này đặt cược 03 ván bài, mỗi ván 50.000 đồng và thua hết 03 ván, đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đang tham gia đặt cược ván thứ 04 với số tiền 50.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang.
- 6. Lê Thị Hoài L2: Khoảng 7 giờ 30 ngày 29/12/2023, L2 đi chợ Đ1 để mua đồ thì thấy tại khu vực tầng hầm gần bãi giữ xe có hơn 10 người đang tham gia đánh bạc với hình thức bài cào ba lá thắng thua bằng tiền. Lúc này, L2 mang theo số tiền 350.000 đồng để tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền này đề tham gia đặt cược 03 ván bải, mỗi ván 50.000 đồng và thua 02 ván, thắng 01 ván, đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đang tham gia chơi thì bị Công an bắt quả tang thu giữ trên người L2 số tiền 300.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.
- 7. Lê Thị T4: Khoảng 7 giờ 05 ngày 29/12/2023, T4 đang bán đậu khuôn ở chợ Đ1 thì thấy tại khu vực tầng hầm gần bãi giữ xe có hơn 10 người đang tham gia đánh bạc với hình thức bài cào ba lá thắng thua bằng tiền. Sau khi thu tiền hàng được 1.300.000 đồng, T4 đã dùng số tiền này cầm trên tay để tham gia đặt cược 04 ván bài, mỗi ván cược 100.000 đồng và đã thua hết 4 ván. Đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đang tham gia chơi thì bị Công an bắt quả tang. Lúc này, T4 thả số tiền 900.000 đồng dùng để đánh bạc xuống chiếu bạc.
- 8. Nguyễn Thanh C2: Khoảng 7 giờ 20 ngày 29/12/2023, C2 đang bán hàng ở chợ Đ1 thì thấy tại khu vực tầng hầm gần bãi giữ xe có hơn 10 người đang tham gia đánh bạc với hình thức bài cào thắng thua bằng tiền. Lúc này, C2 mang theo trong người số tiền 400.000 đồng để đánh bạc và đã sử dụng số tiền này để đặt cược 04 ván bài, mỗi ván đặt 50.000 đồng và thắng 02 ván, thua 02 ván. Đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đang tham gia chơi thì bị Công an bắt quả tang thu giữ trên người C2 số tiền 400.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.
- 9. Nguyễn Ngọc M1: khoảng 7 giờ 05 ngày 29/12/2023, M1 đi đến Chợ Đ1 để chạy xe ôm thì thấy tại khu vực tầng hầm gần bãi giữ xe có hơn 10 người đang tham gia đánh bạc với hình thức bài cào ba lá thắng thua bằng tiền. Lúc này, M1 mang theo trong người số tiền 350.000 đồng để đánh bạc và sử dụng số tiền này để đặt cược 03 ván, mỗi ván đặt 50.000 đồng và đã thua hết 03 văn, đến khoảng 8 giờ 25 phút cùng ngày khi đang tham gia chơi thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ trên người M1 số tiền 200.000 đồng dùng vào mục đích đánh bạc.
Như vậy số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là số tiền thu được từ chiếu bạc và số tiền thu được trên người các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc, tổng cộng là 15.350.000đ (mười lăm triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 220/CT-VKS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố các bị cáo Trương Thị Ngọc H, Nguyễn Việt T1, Trương Thị Ngọc N, Lê Thị Hương L1, Nguyễn Thị Thành C1, Lê Thị Hoài L2, Lê Thị T4, Nguyễn Thanh C2, Nguyễn Ngọc M1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố các bị cáo và đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, bị cáo T1 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Trương Thị Ngọc H từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 đến 24 tháng. Phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt Nguyễn Việt T1, Trương Thị Ngọc N, Lê Thị Hương L1, Nguyễn Thị Thành C1, Lê Thị Hoài L2, Lê Thị T4, Nguyễn Thanh C2, Nguyễn Ngọc M1 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - Trả lại cho bị cáo Trương Thị Ngọc H 01 điện thoại di động OPPO Reno6 màu đen, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh C2: 01 điện thoại di động IPhone 11 màu đen, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động Samsung S7, đã qua sử dụng; trả cho bị cáo Lê Thị Hoài L2: 01 điện thoại di động IPhone 14 Promax màu trắng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lê Thị T4: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lê Thị Hương L1: 01 điện thoại di động Samsung note10, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc M1: 01 điện thoại di động OPPO A77S màu đen, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã sử dụng.
- - Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 15.350.000₫ (mười lăm triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ngày 07/8/2024.
Luật sư T5 gửi bài bào chữa cho bị cáo H: bị cáo H phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành thật khai báo, gia cảnh khó khăn, bị cáo bị bệnh nhiễm độc giáp, đang nuôi chị ruột bị bệnh tâm thần. Vì vậy, xin cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tiếp tục lao động, ohụng dưỡng cha mẹ và điều trị bệnh.
Các bị cáo khác không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo: Vào lúc 8 giờ 25 ngày 29/12/2023, tại khu tầng hầm chợ Đ1, phường A, thành phố Đ, Phòng PC02 - Công an tỉnh L bắt quả tang Trương Thị Ngọc H, Nguyễn Việt T1, Trương Thị Ngọc N, Lê Thị Hương L1, Nguyễn Thị Thành C1, Lê Thị Hoài L2, Lê Thị T4, Nguyễn Thanh C2 và Nguyễn Ngọc M1 đang đánh bạc với hình thức “Bài cào" được thua bằng tiền với tổng số tiền các bị can dùng để đánh bạc là 15.350.000 đồng. Hành vi của các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện, hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về trật tự xã hội, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức án nghiêm phù hợp đối với các bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
[3.1] Tình tiết tăng nặng: Không có.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo T1 ra đầu thú nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[4]. Về phân hóa vai trò của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo H là người cầm cái, chia bài và thanh toán tiền thắng thua cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc nên vai trò của bị cáo cao nhất, các bị cáo còn lại có vai trò ngang nhau. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên khong cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, mà phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng thu giữ chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 07/8/2024 gồm: 01 điện thoại di động OPPO Reno6 màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Trương Thị Ngọc H; 01 điện thoại di động IPhone 11 màu đen, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động Samsung S7, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thanh C2, 01 điện thoại di động IPhone 14 Promax màu trắng, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Thị Hoài L2, 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Thị T4; 01 điện thoại di động Samsung note10, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Thị Hương L1, 01 điện thoại di động OPPO A77S màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Ngọc M1. Các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên trả cho các bị cáo.
1 (một) bộ bài tây 52 lá đã sử dụng, không có gái trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 15.350.000đ (mười lăm triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ngày 07/8/2024 là tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên tuyên tịch thu Sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trương Thị Ngọc H, Nguyễn Việt T1, Trương Thị Ngọc N, Lê Thị Hương L1, Nguyễn Thị Thành C1, Lê Thị Hoài L2, Lê Thị T4, Nguyễn Thanh C2 và Nguyễn Ngọc M1 cùng phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo T1 được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Xử phạt:
- Trương Thị Ngọc H 50.000.00₫ (năm mươi triệu đồng).
- Nguyễn Việt T1 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng).
- Trương Thị Ngọc N 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng)
- Lê Thị Hương L1 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng).
- Nguyễn Thị Thành C1 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng)
- Lê Thị Hoài L2 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng)
- Lê Thị T4 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng)
- Nguyễn Thanh C2 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng)
- Nguyễn Ngọc M1 mỗi bị cáo 40.000.00₫ (bốn mươi triệu đồng).
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Trương Thị Ngọc H 01 điện thoại di động OPPO Reno6 màu đen, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh C2: 01 điện thoại di động IPhone 11 màu đen, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động Samsung S7, đã qua sử dụng; trả cho bị cáo Lê Thị Hoài L2: 01 điện thoại di động IPhone 14 Promax màu trắng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lê Thị T4: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lê Thị Hương L1: 01 điện thoại di động Samsung note10, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc M1: 01 điện thoại di động OPPO A77S màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 15.350.000đ (mười lăm triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ngày 07/8/2024.
(Tất cả vật chứng trên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng).
- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Vân Hồng |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạt tiền
