Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt

Ông Ngô Văn Bê

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐ-ST ngày 24/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 120/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 325/TB-LPT ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Chu Thị N, sinh năm 1983 (xin vắng mặt)

HKTT: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện nay: Số nhà G, ngõ A, đoạn B, đường J, Quận B, thành phố Đ, Đài Loan.

- Người đại diện nhận văn bản tố tụng của chị Chu Thị N: Chị Chị Chu Thị H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Bùi Văn V, sinh năm 1981 (vắng mặt)

HKTT: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Nguyễn Thị V1, sinh năm 1953; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Chu Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn V kết hôn với nhau ngày 24/9/2001 và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V (nay là phường T, thị xã V). Thời gian đây vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung. Tuy nhiên, từ năm 2015 thì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh V hay rượu chè, cờ bạc. Năm 2016 chị đã làm đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên nhưng được hai bên gia đình hòa giải nên chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên anh V vẫn không thay đổi tính cách, vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn V.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Văn L, sinh ngày 12/8/2002 và cháu Bùi Thị Nguyệt M, sinh ngày 25/01/2009. Cháu L đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị để anh V nuôi dưỡng cháu M và chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu M 2.000.000đồng /1 tháng đến khi cháu trưởng thành.

- Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Bùi Văn V không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt đối với anh V theo quy định của pháp luật theo khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đến nay vẫn không thấy anh V đến phiên tòa cũng như không có ý kiến bằng văn bản đến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V1 trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Bùi Văn V, anh V thời gian gần đây luôn vắng nhà, hiện anh V đang làm gì và ở đâu thì bà không biết. Vợ chồng anh V, chị N đã sống ly thân nhiều năm, việc chị N có đơn ly hôn với anh V thì bà không có ý kiến gì. Về con chung thì anh V và chị N có 02 con chung là cháu Bùi Văn L và cháu Bùi Thị Nguyệt M. Cháu L đã trưởng thành và đi làm; còn cháu M từ nhỏ vẫn ở với bà. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn của vợ chồng anh V, chị N thì bà đề nghị Tòa án giao cháu M cho anh V nuôi dưỡng và tạm giao cháu M cho bà nuôi dưỡng trong thời gian anh V không có ở nhà. Về việc chị N có ý kiến cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu M 2.000.000đồng / tháng thì bà đồng ý.

* Tại phiên tòa, chị N và bà V1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

2

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị N. Xử:

Cho chị Chu Thị N được ly hôn anh Bùi Văn V.

Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Nguyệt M cho anh Bùi Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị V1 nuôi dưỡng trong thời gian anh V không có mặt tại địa phương. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị Chu Thị N cấp dưỡng nuôi cháu M 2.000.000đồng / tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 08/2024 cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Chu Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Chu Thị N là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại nước ngoài có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Bùi Văn V. Căn cứ Công văn số 29527/QLXNC-P3 ngày 03/11/2023 của Cục Q Bộ C thì chị Chu Thị N đã xuất cảnh ngày 03/9/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Bị đơn anh Bùi Văn V là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn chị Chu Thị N đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Chu Thị N và bà Nguyễn Thị V1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Bùi Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều

3

lần những vẫn vắng mặt không có lý do. Anh Vĩnh hiện không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ cư trú hiện nay. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh V theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị N và anh Bùi Văn V kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 24/9/2001 tại UBND xã T, huyện V (nay là phường T, thị xã V) nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh V. Xem xét đơn khởi kiện của chị N, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng chị N trình bày vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015. Chị N xác định từ năm 2016 anh chị đã ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Bản thân chị N hiện nay đang lao động tại nước ngoài, vợ chồng xa cách địa lý. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị N được ly hôn với anh V.

[4]. Về nuôi con chung: Chị N và anh V có 02 con chung là cháu Bùi Văn L, sinh ngày 12/8/2002 và cháu Bùi Thị Nguyệt M, sinh ngày 25/01/2009. Cháu L đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với cháu M hiện đang sinh sống cùng bà nội là Nguyễn Thị V1. Chị N hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung nên chị đề nghị giao cháu M cho anh V nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị V1 cũng đề nghị Tòa án giao cháu M cho anh V nuôi dưỡng và tạm giao cho bà chăm sóc cháu M. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của cháu M cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh V được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu M. Tuy nhiên do anh V đang vắng mặt tại địa phương nên cần tạm giao các cháu cho bà Nguyễn Thị V1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh V vắng mặt tại địa phương

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị N có ý kiến đồng ý cấp dưỡng cho cháu M mỗi tháng 2.000.000 đồng. Bà V1 có ý kiến đồng ý mức cấp dưỡng do chị N trình bày. Xét đề nghị của chị N là có căn cứ và mức cấp dưỡng phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận đề nghị của chị N về việc chị N cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Thị Nguyệt M 2.000.000 đồng/ tháng. Thời gian cấp dưỡng từ ngày 16/8/2024 cho đến khi cháu Bùi Thị Nguyệt M khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và

4

gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Chu Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 và khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị N được ly hôn anh Bùi Văn V.
  2. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Nguyệt M, sinh ngày 25/01/2009 cho anh Bùi Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị V1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh Bùi Văn V trở về địa phương hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Chu Thị N cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Thị Nguyệt M mỗi tháng là 2.000.000 đồng kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi cháu Bùi Thị Nguyệt M đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Về án phí: Chị Chu Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000073 ngày 24/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Chị N còn phải nộp số tiền án phí 300.000đồng.
  4. Về quyền kháng cáo:
    • - Chị Chu Thị N hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Anh Bùi Văn V và bà Nguyễn Thị V1 cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

5

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND phường Tự Lạn, TX Việt Yên,
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hường

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 217/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nương ly hôn Vĩnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger