Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án: 226/2024/HSST.

Ngày: 24/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Luận

Ông Phạm Văn Tiến

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.

Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên toà tại điểm cầu thành phần:

Ông Trần Đình T - Thư ký TAND thành phố Thanh Hoá.

Ông Trịnh Công S - Kiểm sát viên VKSND thành phố Thanh Hoá.

Ông Trần Anh T1 - Kiểm tra viên VKSND thành phố Thanh Hoá.

Ngày 24/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá xét xử trực tuyến, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 242/2024/HSST ngày 17/4/2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T2 - sinh năm 1982; nơi ĐKNKTT tại: A Lô E CL13 MB A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Đức T3 (đã chết) và con bà Hoàng Thị T4 (đã chết); chồng là Thạch Huy H (đã chết) và có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 25/6/2001 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Ngày 10/6/2014 bị Công an phường B, thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”; Ngày 02/7/2020 bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phúc thẩm xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2021; bị tạm giữ: 09/01/2024; tạm giam: 15/01/2024; hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Thị T2 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 09/01/2024, tại trước số nhà A N, phường T, thành phố T, tổ công tác Công an thành phố T phát hiện Nguyễn Thị T2 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Khi bị kiểm tra T2 dùng tay thả xuống đất ngay cạnh chân 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (0,5x2)cm, bên trong là giấy trắng chứa chất cục bột màu trắng. Sau đó T2 đã tự giác nhặt lên giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đây là gói ma túy loại Heroine Thơm cất giấu với mục đích sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ tang vật.

Về nguồn gốc ma tuý, T2 khai nhận khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, T2 một mình đi bộ đến khu vực cầu C, phường A, thành phố T gặp một người đàn ông tự xưng tên là X, khoảng 35 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch. Thơm nhờ người này mua giúp 01 gói ma túy heroine giá 300.000đ, người này đồng ý, cầm tiền đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho T2 01 gói ma túy heroine. Sau khi mua được ma túy, T2 đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,202 gam, loại Heroine.

Sau giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong 0,168g (không phẩy một sáu tám gam) chất cục bột màu trắng. Tất cả được cho vào một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Lê Minh T5, Trần Thị Thúy H1, Trần Quang A, Vũ Văn Đ và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.

Đối với người đàn ông tên X, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này. Ngoài lời khai của T2, không có các tài liệu, chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh và xử lý.

Cáo trạng số 176/CT-VKS ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Nguyễn Thị T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Do nghiện ma túy. Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 09/01/2024, tại trước số nhà A N, phường T, thành phố T, Nguyễn Thị T2 có hành vi tàng trữ trái phép 0,202g ma túy, loại Heroine, mục đích là để sử dụng, thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị T2 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

[3]. Bị cáo là đối tượng biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống trong các quan hệ xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa lành mạnh. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS phát triển, nhất là đối với những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì có tác hại như vậy nên nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục, nhằm ngăn chặn các tệ nạn và hoạt động có liên quan đến ma túy. Trong vụ án này bị cáo vì nghiện ma túy dẫn đến phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[4] Trong vụ án này, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và nhân thân nhiều lần bị xét xử và xử lý hành chính trong đó bị kết án về tội cùng loại tuy đã được xoá án, chứng tỏ rằng bị cáo không chịu cải sửa, xem thường pháp luật, nên cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, số lượng ma tuý ít, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Số Hêrôin thu được của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T2 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy được niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T, có các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, kèm các chữ ký, chữ viết của Lê Minh T5, Trần Thị Thúy H1, hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 144/2024/THA ngày 23/4/2024.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Luận
Phạm Văn Tiến
Nguyễn Thị Lan Anh

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSNDTPTH;
  • - Công an T;
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 226/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger