|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 217/2024/HS-ST Ngày 14-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Quang Hoạch.
Ông Đinh Xuân Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST – HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/HSST-QĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Đức Q, sinh năm 1997, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
2/ Họ và tên: Nguyễn Trường G, sinh năm 1995 tại Hà Tĩnh. Nơi cư trú: ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Nguyễn Văn L, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972; có vợ tên Huỳnh Thị Niềm V, sinh năm 1995; và chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023, đến ngày 31/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Có mặt)
3/ Họ và tên: Võ Minh T1, sinh năm 1998 tại Sóc Trăng.
Nơi đăng ký HKTT: xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn L1, sinh năm: 1945 và bà Nguyễn Thị G1, sinh năm: 1954; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
4/ Họ và tên: Trần Thị Lệ T2, sinh năm 1995 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Trần Trọng P, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1967; chưa có chồng con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023 đến ngày 31/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Có mặt)
5/ Họ và tên: Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1994 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Như Q1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971; bị cáo chưa có chồng và có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023 đến ngày 31/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Có mặt)
6/ Họ và tên: Trần Đình N, sinh năm 1994 tại Đồng Nai.
Nơi đăng ký HKTT: 1 Đ, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con Trần Đình H2 (đã chết) và bà Cao Thị L2, sinh năm 1957; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
7/ Họ và tên: Nguyễn Thành H3, sinh năm 1995 tại Đắk Lắk.
Nơi đăng ký HKTT: 4 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Kỹ sư; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh P1 (đã chết) và bà Trần Thị Ngọc L3, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ. (có mặt)
8/ Họ và tên: Tống Phước D1 (tên gọi khác: Q), sinh năm 2000 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: Ấp Q, xã Q, huyện T, Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tống Ngọc H4 (đã chết) và bà Đỗ Thị Bích L4, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 02 giờ 15 phút ngày 09/8/2023, Công an xã G tuần tra trên tuyến đường B - G thuộc ấp X, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện Võ Minh T1 đang điều khiển xe mô tô 60H1- 540.01 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần Jean bên tay trái của T1 có 01 gói nylon bên trong có chất tinh thể màu trắng, T1 khai là ma túy do Nguyễn Trường G liên hệ mua của đối tượng tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) và nói T1 đi gặp T4 lấy ma túy đem về để sử dụng cùng nhóm bạn tai căn phòng thuê tại ấp T, xã B, huyện T. Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Minh T1.
Vật chứng thu giữ được:
- 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong vào phong bì giấy (kí hiệu M1);
- 01 xe mô tô biển số 60H1-540.01;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, gắn số sim 0782.222.178 và số tiền 500.000 đồng.
Công an xã G đã phối hợp cùng Công an xã B tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà không số do Trần Đình N thuê ở tại đường B - G thuộc ấp T, xã B, huyện T (căn nhà gồm 01 phòng phía trước dùng để buôn bán, 02 phòng ngủ được dán mút cách âm, 01 nhà bếp phía sau) phát hiện tại phòng ngủ đầu tiên bên tay trái (tính từ hướng cửa phụ bên trái căn nhà đi vào) có 05 đối tượng gồm: N3, Trần Thị Lệ T2, Trần Thị Mỹ D và Trần Đình N.
Kiểm tra tại phòng nơi 05 đối tượng đang có mặt thu giữ:
- 01 thẻ ATM của ngân hàng V2 mang tên NGUYEN THANH HIEU số 5318280008338620 trên thẻ có bám dính chất màu trắng; 01 túi nilong (dạng bịch Zip, kích thước 3,7cm x 4cm) bên trong bám dính chất màu trắng Q khai nhận đây là gói chứa ma túy khay đã sử dụng hết cùng với G, T1, D và T2. Tất cả được cho vào 01 phong bì (kí hiệu M2).
- Kiểm tra góc trong cùng bên tay trái phát hiện 01 túi nilong màu trắng kích thước 4cm x 7cm (không phát hiện chứa chất gì).
- Bên phía tay trái sát tường (tính từ hướng cửa phòng ngủ đi vào) thu giữ 02 đèn chiếu laser dài màu đen, 01 máy tạo khói, 01 loa nghe nhạc màu đen. Phía cuối phòng có 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 máy chiếu laser màu đen hình vuông và 01 máy chiếu laser màu trắng hình người.
Kiểm tra khu vực hành lang lối đi bên tay trái phát hiện thu giữ: 06 bình kim loại màu xanh; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 quyển tập học sinh hiệu Quang Tâm Book để ghi chép và 01 tập giấy hóa đơn tính tiền.
Tiến hành kiểm tra tại phòng ngủ số 02, phát hiện Nguyễn Thành H3 đang nằm ngủ trên tấm nệm. Qua kiểm tra ở sát góc phòng bên tay phải (tính từ hướng cửa phòng ngủ đi vào) thu giữ:
- 01 tờ polyme mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành dạng ống hút; 01 đĩa sứ màu trắng. Tất cả được niêm phong vào cùng 01 phong bì giấy (kí hiệu M3).
- 01 bịch nylon bên trong có 47 túi bong bóng màu trắng.
- Ngoài ra còn thu giữ 02 xe mô tô biển số 60B8-990.66 và biển số 60B7-27037; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, gắn sim số 0962.803.xxx; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu trắng, gắn sim số 0845974697; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, gắn sim số 0965452693; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, gắn sim số 0909485352; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0976428922; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, gắn sim số 0928956879; 01 điện thoại di động hiệu VsMart (không gắn sim); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen; số tiền 1.100.000 đồng của Nguyễn Đức Q và số tiền 3.560.000 đồng của Trần Thị Mỹ D.
Qua làm việc Q khai nhận ngày 08/8/2023 đã mua ma túy của Tống Phước D1 và thuê phòng của N để sử dụng ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tống Phước D1 tại số nhà F ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai, thu giữ:
- 01 gói nylon hàn kín bên trong có 02 gói nylon hàn kín gồm: 01 gói nylon chứa 06 viên nén màu tím (kí hiệu M41) và 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu hồng đỏ (kí hiệu M42).
- 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đen gắn sim số 0797.012.348.
Qua test nhanh việc sử dụng ma túy (nước tiểu) đối với Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D, Trần Thị Lệ T2, Nguyễn Thành H3 và Tống Phước D1 cho kết quả dương tính với chất ma túy, riêng Trần Đình N cho kết quả âm tính với chất ma túy.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên.
Tại Kết luận giám định số: 1798/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,9923 gam loại: Ketamine.
- Mẫu chất màu trắng (mẫu M2) bám dính trên 01 thẻ ATM của ngân hàng V2 mang tên NGUYEN THANH HIEU số 5318280008338620 và 01 gói nylon được niêm phong gửi đến giám định đều là ma tuý, loại: Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
- Mẫu 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành dạng ống hút và 01 đĩa sứ màu trắng (ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định đều tìm thấy ma túy, loại Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
- Mẫu 06 viên nén màu tím (ký hiệu M41) được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 2,3063gam, loại: Acetaminophen.
Acetaminophen không thuộc Danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Thủ tướng chính phủ.
- Mẫu 01 viên nén màu hồng đỏ (ký hiệu M42) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,4076 gam, loại: MDMA.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T cũng đã trưng cầu giám định mẫu chất (khí) trong 06 bình kim loại thu giữ trong vụ án.
Tại bản kết luận giám định số: 7539/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C kết luận: “Các mẫu khí hóa lỏng đựng trong 06 bình kim loại màu xanh có ký hiệu từ M1 đến M6, được niêm phong gửi đến giám định có chứa thành phần khí N2O (Nitrous oxide gas). Tổng khối lượng mẫu khí: 21,8 kg. Các mẫu khí hóa lỏng này đều không tìm thấy các chất ma túy và tiền chất trong Danh mục các chất ma túy và tiền chất của Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 8 năm 2022”.
Ngày 17/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D, Trần Thị Lệ T2, Trần Đình N, Nguyễn Thành H3 và Tống Phước D1 về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để điều tra.
Quá trình điều tra xác định: Các bị cáo Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D, Trần Thị Lệ T2 và Tống Phước D1 đều sử dụng trái phép chất ma túy, còn Trần Đình N từ đầu tháng 7/2023, N thuê lại căn nhà tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để sinh sống và buôn bán, phòng phía trước N dùng để buôn bán phụ kiện điện thoại di động (ốp điện thoại các loại), còn 02 phòng ngủ N dán xốp cách âm xung quanh tường và sử dụng phòng ngủ đầu tiên (tính từ hướng cửa phụ bên trái căn nhà đi vào) làm phòng cho khách thuê để sử dụng ma túy và mua loa nghe nhạc, đèn chiếu laser, máy tạo khói làm dụng cụ để cho khách đến thuê dùng để sử dụng ma túy. Từ ngày 10/7/2023, do không có việc làm nên H3 đến ở cùng tại căn nhà trên cùng với N và phụ giúp N bán ốp điện thoại. Trong quá trình ở cùng với N, H3 biết N cải tạo phòng cho khách thuê để sử dụng trái phép chất ma tuý, H3 đã nhiều lần giúp N ghi chép sổ thu chi của hoạt động cho khách thuê phòng để sử dụng ma tuý, ghi hoá đơn tính tiền phòng cho khách, chuẩn bị nước uống, khăn lạnh và dọn phòng sau khi khách thuê phòng trả phòng.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/8/2023, sau khi cùng nhau đi ăn nhậu, Q rủ G, T2, D, T1 “có ai đi bay không” (tức rủ có ai đi sử dụng trái phép chất ma túy không) thì mọi người đều đồng ý. Do trước đó Q đã từng thuê phòng của N tại ấp T, xã B, huyện T để sử dụng ma túy với giá 3.500.000 đồng một đêm nên Q sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu trắng, gắn sim số 0845974697 liên lạc cho N để đặt thuê phòng sử dụng ma túy, N đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày, N vào phòng và gọi H3 dậy để mượn thẻ Ngân hàng của H3 cho khách làm dụng cụ để chia ma tuý khay sử dụng thì H3 đồng ý lấy thẻ Ngân hàng VIB "mang tên NGUYEN THANH HIEU số 5318280008338620" đưa cho N mượn rồi đi ngủ tiếp. Sau khi liên lạc thuê được phòng để sử dụng ma túy, Q sử dụng điện thoại liên lạc qua mạng xã hội M cho D1 hỏi mua ma túy "khay" với giá 1.000.000 đồng, D1 đồng ý. Sau đó Q điều khiển xe mô tô biển số 60B8-990.66 chở D đi đến nhà D1 lấy ma túy, D1 đưa cho Q 01 gói nilon kích thước 4cm x 3,7cm bên trong có chứa ma túy khay, Q hẹn hôm sau sẽ trả tiền cho D1. Sau khi mua được ma túy cả bọn đi đến căn nhà thuê của N ở ấp T, xã B. Lúc này N dẫn cả nhóm vào căn phòng đầu tiên bên tay trái (gần sát vị trí cửa phụ ra vào bên hông căn nhà), trong phòng đã bố trí sẵn loa nghe nhạc, đèn chiếu laser, máy tạo khói và 01 đĩa sứ màu trắng để trên nóc tủ lạnh (bên tay phải hướng cửa đi vào), trên đĩa có: 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn.
Sau đó, N bật đèn phòng sử dụng ma túy và lấy điện thoại của T1 kết nối B1 với loa trong phòng rồi đi ra ngoài, N đóng cửa bên ngoài lại, còn 05 người nhóm Q trong phòng. Lúc này, Q lấy gói ma túy khay trong người đổ ra đĩa rồi dùng thẻ ngân hàng chia ma túy khay, sau đó Q, D, T2, G và T1 lần lượt dùng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn hút ma túy. Cả nhóm sử dụng ma túy đến khoảng 02 giờ ngày 09/8/2023 thì Q mệt nên nằm tại chỗ ngủ, lúc này do hết ma túy để sử dụng nên G sử dụng điện thoại di động liên hệ qua mạng xã hội Messenger với một người tên “Nguyễn T5” để hỏi mua ma túy, tiền mua ma túy T5 và G tính toán sau, T5 đồng ý. Sau đó, G đưa điện thoại và xe mô tô hiệu Honda SH biển số 60H1-540.01 cho T1 để đến gặp T5 tại khu vực cây xăng P, xã G (gần đường ray xe lửa) để lấy ma túy. Khi lấy được ma túy, trên đường đi về thì T1 bị Công an xã G kiểm tra bắt quả tang. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, khi biết lực lượng Công an vào kiểm tra N chạy vào phòng nói cho nhóm Q biết, đồng thời N cầm đĩa sứ và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng (là dụng cụ để sử dụng ma túy) đem sang phòng ngủ thứ 02 cất giấu ở góc phòng thì bị kiểm tra phát hiện thu giữ.
Ngoài ra, trong quá trình làm việc các bị cáo Q, G, T1, D và T2 đã tự khai về việc trước đó đã thuê phòng của N và cùng tham gia tổ chức sử dụng ma túy được 02 lần, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Vào tối ngày 25/7/2023, Q liên lạc với D1 đặt mua nửa hộp ma túy khay và 03 viên ma túy kẹo với giá 3.900.000 đồng, D1 đồng ý và hẹn Q giao ma túy ở gần nhà D1. Sau khi mua được ma túy, Q bỏ trong túi quần và đến ăn nhậu cùng G, D, T2 và T1, trong lúc ăn nhậu mọi người rủ nhau đi sử dụng ma túy tại nhà của N và thống nhất hết bao nhiêu tiền thì mọi người sẽ góp lại cùng trả tiền sử dụng ma túy. Khi cả nhóm đến thuê phòng thì N yêu cầu phải chuyển khoản trước số tiền 3.500.000 đồng đến số tài khoản 5905205422711 của H3 để sử dụng ma túy, do không đủ tiền nên Q nói Thuyên chuyển khoản cho Q để Q chuyển trả tiền thuê phòng cho N, T2 đồng ý và chuyển đến số tài khoản 0845974697 ngân hàng MB của Q số tiền 3.500.000 đồng, sau đó Q chuyển số tiền này đến số tài khoản 5905205422711 của H3. Sau khi thuê được phòng, Q lấy ma túy mua trước đó lấy ra cùng với D, T2, G và T1 sử dụng hết. Đến sáng ngày 26/7/2023 Q nhắn tin thông báo cho từng người biết là tiền thuê phòng để sử dụng ma túy hết 4.025.000 đồng và tiền mua ma túy sử dụng chung hết 3.900.000 đồng, tổng số tiền hết 7.925.000 đồng. Sau đó, G góp 2.000.000 đồng, T1 góp 700.000 đồng, còn T2 thông báo đã góp tiền cho D vào tối ngày 25/7/2023 nên D chuyển trả lại cho T2 số tiền 1.000.000 đồng tiền góp sử dụng ma túy với cả nhóm.
- Lần thứ hai: Vào tối ngày 28/7/2023, Q liên lạc với đối tượng tên S (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy khay với số tiền 1.600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q cất giấu trong người và đi nhậu cùng với G, T2, trong lúc nhậu Q gọi điện thoại rủ D đồng thời Q rủ G, T2 đến nhà của N thuê phòng sử dụng ma túy, tất cả đồng ý (lần này T1 không tham gia). Q liên hệ đặt phòng của N và cung cấp ma túy cho G, D và T2 cùng sử dụng. Lần sử dụng này đến sáng ngày 29/7/2023 cả nhóm đi về, Q nói N cho nợ tiền thuê phòng sử dụng ma túy. Đến chiều ngày 29/7/2023 Q gặp G, Q kể lại việc sử dụng ma túy thì tiền thuê phòng hết 3.500.000 đồng, tiền mua ma túy hết 1.000.000 đồng, nghe vậy G góp số tiền 2.500.000 đồng thông qua việc chuyển vào tài khoản của H3 để trả tiền thuê phòng cho N, còn 1.000.000 đồng Q gặp trả trực tiếp cho N. D và T2 không phải góp tiền trong lần sử dụng ma túy này.
Việc bàn bạc thỏa thuận góp tiền trong quá trình sử dụng ma túy thì cả nhóm không bàn bạc từ trước vì là bạn bè chơi chung với nhau nên sau khi tổ chức sử dụng ma túy xong thì mới bắt đầu tính toán hết bao nhiêu tiền và chia đều, nếu ai không có thì hôm sau đưa lại. Vào ngày 09/8/2023, các đối tượng chưa sử dụng ma túy xong thì bị Công an vào kiểm tra nên chưa có tính toán tiền để chia đều được.
Đối với H3, đã phụ giúp N dọn dẹp phòng sau khi khách thuê để sử dụng ma túy xong và ghi chép sổ sách, hoá đơn tính tiền giờ, tiền nước cho các khách thuê phòng để sử dụng ma tuý, H3 được N lo cho ăn uống và chỗ để ngủ. H3 còn cho N mượn số tài khoản 5905205422711 của Ngân hàng A của H3 để Q chuyển trả tiền thuê phòng sử dụng ma túy, sau đó H3 rút tiền từ tài khoản của mình và đưa lại cho N. Ngoài ra, vào ngày 31/7/2023 M1 (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc cho H3 đặt thuê phòng để sử dụng ma túy thì H3 đọc số điện thoại của N để M1 trực tiếp liên lạc thuê phòng. Sau đó, M1 đi cùng N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đến thuê phòng, khi cả hai đang sử dụng ma túy thì H3 đi vào phòng thấy nên M1 lấy cho H3 01 mẩu ma túy kẹo để cùng sử dụng chung. Sau đó, N nhờ H3 ghi hóa đơn tính tiền thu chi phòng mà M1 và N1 thuê để sử dụng trái phép chất ma túy nên H3 biết N cho M1 thuê phòng với giá 2.100.000 đồng, còn những lần khác N đều cho thuê phòng với giá 3.500.000 đồng.
Ngoài việc cho Q, G, T1, D, T2 thuê phòng, N còn cho một số đối tượng khác chưa xác định được lai lịch thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng số tiền N thu lợi từ việc cho các đối tượng thuê phòng để sử dụng ma túy là 26.600.000 đồng.
Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại Cáo trạng số: 117/CT/VKS-TB ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Võ Minh T1 và Nguyễn Trường G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Trần Đình N, Nguyễn Thành H3, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D và Trần Thị Lệ T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và truy tố Tống Phước D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q mức án từ 07 năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G mức án từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù đến 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Võ Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Võ Minh T1 mức án từ 07 năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ D mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Trần Thị Lệ T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị Lệ T2 mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Trần Đình N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đình N mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Nguyễn Thành H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H3 mức án từ 07 năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Tống Phước D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số: 1798/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 thẻ ATM của ngân hàng V2 mang tên NGUYEN THANH HIEU số 5318280008338620; 02 đèn chiếu laser dài màu đen; 01 máy tạo khói; 02 loa nghe nhạc màu đen; 01 máy chiếu laser màu đen hình vuông và 01 máy chiếu laser màu trắng hình người; 01 cân tiểu ly là vật chứng, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên đề nghị Tòa tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 07 chiếc điện thoại di động các loại gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, gắn số sim 0782222178 thu giữ của T1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, gắn sim số 0962.803.xxx thu giữ của H3; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu trắng, gắn sim số 0845974697 thu giữ của Q; 01 điện thoại di động hiệu S2 màu đen, gắn sim số 0344455433 thu giữ của N; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, gắn sim số 0965452693 thu giữ của T2; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, gắn sim số 0909485352 thu giữ của D; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đen, gắn sim số 0797.012.348 thu giữ của D1; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công.
- Đối với 01 quyển tập học sinh hiệu Quang Tâm Book và 01 tập giấy hóa đơn tính tiền là chứng cứ, lưu hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0976428922 thu giữ của Nguyễn Trường G; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, gắn sim số 0928956879; 01 điện thoại di động hiệu VsMart (không gắn sim); 01 đĩa sứ màu trắng; 01 túi nylon thu giữ của Trần Đình N, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho G và N.
- Đối với số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 thu giữ của T1; số tiền 1.100.000 đồng thu giữ của Q và 3.560.000 đồng thu giữ của D, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho T1, G và D.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 60B8-990.66, kết quả tra cứu do bà Trần Thị H5, sinh năm 1978, HKTT: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (là cô ruột của Trần Thị Mỹ D) đứng tên sở hữu. Ngày 08/8/2023, D mượn xe 60B8-990.66 của bà H5 để đi công việc và tự ý sử dụng vào việc phạm tội, bà H5 không biết nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho bà H5.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 60H1-540.01, kết quả tra cứu do chị Nguyễn Thị Quỳnh N2, sinh năm 1994, HKTT: ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/8/2023, G mượn xe mô tô biển số 60H1-540.01 của chị N2 để đi công việc và tự ý sử dụng vào việc phạm tội chị N2 không biết nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho chị N2.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 60B7-270.37, kết quả tra cứu do chị Đoàn Thị Thanh V1, sinh năm 1991, HKTT: xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký vào năm 2014. Đến năm 2022 chị V1 đã bán xe cho Nguyễn Thành H3, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của H3 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo số sim 0985270659 của H3 không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho H3.
- Đối với 06 bình kim loại màu xanh (chứa khí N2O) và 47 túi bong bóng màu trắng thu giữ của Trần Đình N, N khai nhận vào tháng 7/2023 S1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến thuê phòng sử dụng bóng cười và mang theo các bình khí trên, sau khi sử dụng bóng cười tại nhà thuê của N, S1 để lại các bình khí trên và nhờ N bán khí N2O trong các bình kim loại trên, bán được S1 trả công cho N nên N đồng ý. Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ hành vi bán khí N2O của N để xử lý theo quy định.
- Đối với số tiền N thu lợi từ việc cho các đối tượng thuê phòng sử dụng ma túy là 26.600.000 đồng, đề nghị Tòa tuyên buộc bị cáo N nộp lại để sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Các Bị cáo Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Trần Đình N, Nguyễn Thành H3, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D và Trần Thị Lệ T2, Tống Phước D1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Trần Đình N, Nguyễn Thành H3, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ Dvà Trần Thị Lệ T2, Tống Phước D1 không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 25/7/2023, 28/7/2023 và ngày 08/8/2023, các bị cáo Nguyễn Đức Q, Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Trần Thị Mỹ D và Trần Thị Lệ T2 đã có hành vi rủ nhau góp tiền mua ma túy và cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn nhà thuê của Trần Đình N ở tại đường B - G thuộc ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đối với N có hành vi nhiều lần cho thuê địa điểm và các dụng cụ cho các đối tượng sử dụng ma túy để hưởng lợi. Bị cáo Nguyễn Thành H3 biết rõ việc N cho các đối tượng thuê nhà để sử dụng trái phép chất ma túy nhưng H3 vẫn giúp sức cho N trong việc cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, ghi chép hóa đơn, thu tiền và dọn dẹp phòng sử dụng ma túy.
Đối với Tống Phước D1 đã có hành vi 02 lần bán ma túy tổng hợp dạng khay cho Nguyễn Đức Q vào ngày 25/7/2023 và 08/8/2023, tại xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Số ma tuý còn lại D1 đang tàng trữ nhằm mục đích mua bán bị thu giữ là 0,4076 gam, loại: MDMA.
Ngoài ra Võ Minh T1 và Nguyễn Trường G còn có hành vi tàng trữ 1,9923 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng vào ngày 09/8/2023.
Hành vi của bị cáo Võ Minh T1 và Nguyễn Trường G đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; Hành vi của bị cáo Trần Đình N, Nguyễn Thành H3, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D và Trần Thị Lệ T2 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; Hành vi của bị cáo Tống Phước D1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố là có căn cứ.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Nhà nước ta nghiêm cấm các hành vi chứa chấp, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cung cấp chất ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho người khác sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Trong đó, bị cáo Q là người khởi xướng, trực tiếp liên hệ mua ma túy, liên hệ đặt thuê phòng của N nên Q có vai trò cao nhất trong vụ án. Còn T1, G, D và T2 cùng góp tiền với Q để trả tiền mua ma túy và tiền thuê phòng nên có vai trò thấp hơn.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; gia đình bị cáo H3, bị cáo G, bị cáo T2 và bị cáo D có hoàn cảnh khó khăn (Có đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú), bị cáo H3 có bà ngoại là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo G, T2, Q, T1 và D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong thời gian tại ngoại bị cáo G đã cung cấp nhiều nguồn tin về tội phạm trên địa bàn xã, góp phần đảm bảo an ninh trật tự cho địa bàn xã Đ, huyện T nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo G. Do các bị cáo Nguyễn Trường G, Trần Thị Mỹ D và Trần Thị Lệ T2 có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và có vai trò không đáng kể nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
[6.1] Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong 01 phong bì niêm phong số: 1798/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 thẻ ATM của ngân hàng V2 mang tên NGUYEN THANH HIEU số 5318280008338620; 02 đèn chiếu laser dài màu đen; 01 máy tạo khói; 02 loa nghe nhạc màu đen; 01 máy chiếu laser màu đen hình vuông; 01 máy chiếu laser màu trắng hình người và 01 cân tiểu ly.
[6.2] Tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, có số Imei: 356266767351460, kèm theo một sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, trên khay sim có số seri: 357235092954438 kèm theo một sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu trắng, trên khay sim có số seri: 3353240106006914; 01 điện thoại di động hiệu S2 màu đen, kèm theo một sim điện thoại có số seri 8984 050918 1127443734; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, trên khay sim có số seri: 354842974641919, kèm theo sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, trên khay sim có số seri: 355209290355062, kèm theo sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đen, trên khay sim có số seri: 353135100521258, kèm theo sim điện thoại và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
[6.3] Đối với 01 quyển tập học sinh hiệu Quang Tâm Book và 01 tập giấy hóa đơn tính tiền là chứng cứ, lưu hồ sơ vụ án.
[6.4] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0976428922; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, gắn sim số 0928956879; 01 điện thoại di động hiệu VsMart (không gắn sim); 01 đĩa sứ màu trắng; 01 túi nylon, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho bị cáo G và N theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6.5] Đối với số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 thu giữ của T1; số tiền 1.100.000 đồng thu giữ của Q và 3.560.000 đồng thu giữ của D, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho T1, G và D theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6.6] Đối với 01 xe mô tô biển số 60B8-990.66, kết quả tra cứu do bà Trần Thị H5, sinh năm 1978, trú tại: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (là cô ruột của Trần Thị Mỹ D) đứng tên sở hữu. Ngày 08/8/2023, D mượn xe 60B8-990.66 của bà H5 để đi công việc và tự ý sử dụng vào việc phạm tội, bà H5 không biết nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho bà H5 theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6.7] Đối với 01 xe mô tô biển số 60H1-540.01, kết quả tra cứu do chị Nguyễn Thị Quỳnh N2, sinh năm 1994, trú tại: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/8/2023, G mượn xe mô tô biển số 60H1-540.01 của chị N2 để đi công việc và tự ý sử dụng vào việc phạm tội chị N2 không biết nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho chị N2 theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6.8] Đối với 01 xe mô tô biển số 60B7-270.37, kết quả tra cứu do chị Đoàn Thị Thanh V1, sinh năm 1991, trú tại: Xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký vào năm 2014. Đến năm 2022 chị V1 đã bán xe cho Nguyễn Thành H3, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của H3 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo số sim 0985270659 của H3 không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho H3 theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6.9] Buộc bị cáo Trần Đình N nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 26.600.000 đồng thu lợi từ việc cho các đối tượng thuê phòng sử dụng ma túy.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Trần Đình N, Nguyễn Thành H3, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D và Trần Thị Lệ T2, Tống Phước D1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
[8.1] Đối với Trần Văn T6 là người cho Trần Đình N thuê nhà. Khi N thuê nhà của ông T6 chỉ thỏa thuận miệng với nhau, mục đích để N bán phụ kiện điện thoại. N khai N tự ý cải tạo phòng để cho các đối tượng thuê sử dụng trái phép chất ma túy, ông T6 không biết việc này. Đồng thời hiện nay ông T6 cũng không có mặt ở địa phương nên chưa làm việc được. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ xử lý sau.
[8.2] Đối với các đối tượng tên S1, S, T5, M1, N1 do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[8.3] Đối với 06 bình kim loại màu xanh (chứa khí N2O) và 47 túi bong bóng màu trắng thu giữ của Trần Đình N, N khai nhận vào tháng 7/2023 S1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến thuê phòng sử dụng bóng cười và mang theo các bình khí trên, sau khi sử dụng bóng cười tại nhà thuê của N, S1 để lại các bình khí trên và nhờ N bán khí N2O trong các bình kim loại trên, bán được S1 trả công cho N nên N đồng ý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ hành vi bán khí N2O của N để xử lý theo quy định.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
1.2. Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Trường G phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian giam giữ trước đó (từ ngày 09/8/2023 đến ngày 31/8/2023).
1.3. Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Võ Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Võ Minh T1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt 07 (bảy) năm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Võ Minh T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
1.4. Căn cứ điểm điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian giam giữ trước đó (từ ngày 09/8/2023 đến ngày 31/8/2023).
1.5. Căn cứ điểm điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Lệ T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Lệ T2 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian giam giữ trước đó (từ ngày 09/8/2023 đến ngày 31/8/2023).
1.6. Căn cứ điểm điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trần Đình N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Đình N 07 (bảy) năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
1.7. Căn cứ điểm điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H3 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
1.8. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Tống Phước D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tống Phước D1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong 01 phong bì niêm phong số: 1798/KL-KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 thẻ ATM của ngân hàng V2 mang tên NGUYEN THANH HIEU số 5318280008338620, 02 đèn chiếu laser dài màu đen, 01 máy tạo khói, 02 loa nghe nhạc màu đen, 01 máy chiếu laser màu đen hình vuông, 01 máy chiếu laser màu trắng hình người và 01 cân tiểu ly.
2.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, có số Imei: 356266767351460, kèm theo một sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, trên khay sim có số seri: 357235092954438 kèm theo một sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu trắng, trên khay sim có số seri: 3353240106006914; 01 điện thoại di động hiệu S2 màu đen, kèm theo một sim điện thoại có số seri 8984 050918 1127443734; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, trên khay sim có số seri: 354842974641919, kèm theo sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, trên khay sim có số seri: 355209290355062, kèm theo sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đen, trên khay sim có số seri: 353135100521258, kèm theo sim điện thoại và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. (Theo biên bản giao nhận vật chúng, tài sản ngày 09/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Võ Minh T1, Nguyễn Trường G, Trần Đình N, Nguyễn Thành H3, Nguyễn Đức Q, Trần Thị Mỹ D và Trần Thị Lệ T2, Tống Phước D1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dung ma túy
