|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 217/2023/HS-ST Ngày: 13-11-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Lâm Thị Nga
- 2. Ông Nguyễn Văn Quản
- Thư ký phiên toà: ông Triệu Việt Anh Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 299/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1095/2023/QĐXXST ngày 17/10/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung T, sinh năm 1993; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 103/1, Tổ I, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phồ H; Nơi cư trú: C đường số A, khu phố D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1960, con bà Trần Thị H, sinh năm 1963; Vợ Trương Xuân N, sinh năm 1989, có 02 con lớn nhất sinh năm 2016 nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án: Bản án 84/2018/HSST ngày 11/6/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12 tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, đã chấp hành xong án phạt tù, chưa nộp án phí và chưa nộp số tiền thu lợi bất chính.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
Bản án 377/2013/HSPT ngày 20/6/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản theo quy định điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, đã chấp hành án phạt tù, thi hành xong án phí.
Ngày 13/6/2016 bị Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2023 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh năm 1976
Nơi cư trú: 1803/1a, Tổ A, Khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Lâm Trọng N1, sinh năm: 1979
Nơi cư trú: Ấp V, Thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt tại phiên tòa).
2/ Ông Phạm Công B, sinh năm 1959
Nơi cư trú: 160 P, Khu phố C, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/5/2023, Nguyễn Trung T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ (bị mài mất số khung, số máy), gắn biển số: 72F1-450.76 (Tín được cho mượn từ một người bạn quen biết ngoài xã hội mà T không biết rõ lai lịch) đi trên các tuyến đường trên địa bàn Quận A để tìm tài sản cướp giật. Khi đi đến trước địa chỉ số C, đường V, Tổ D, Khu phố C, phường A, Quận A thì T nhìn thấy chị Nguyễn Thị Cẩm T2 đang điều khiển xe mô tô, biển số: 94K2-075.47 đi một mình cùng chiều với T, trên cổ có đeo 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng nên chạy theo sau vượt lên, áp sát vào phía bên phải xe mô tô của chị T2 rồi dùng tay trái giật lấy sợi dây chuyền kim loại màu vàng của chị T2 làm sợi dây chuyền bị đứt ra nhưng do vướng phải cổ áo khoác của chị T2 nên T không giật được sợi dây chuyền mà làm chị T2 cùng xe mô tô bị ngã xuống đường nên T nhanh chóng tăng ga tẩu thoát về hướng chân cầu B. Khi điều khiển xe đến bãi đất trống dưới chân cầu B, thuộc Tổ D, Khu phố C, phường A, Q. Tín dùng 01 cờ lê cỡ số 10 có sẵn trong cốp xe thảo biển số xe: 7251-45076 và vứt lại biển số trên tại đây, rồi điều khiển xe, không gắn biển số chạy về phòng trọ số 4, địa chỉ: C, Đường số A, Khu phố D, phường T, thành phố T để lẫn trốn. Đến ngày 19/5/2023, Nguyễn Trung T điều khiển xe, không gắn biển số chạy đến Quận A để đi công việc. Khi đi qua một bãi đất trống trên đường A, thuộc Tổ C, Khu phố E, phường A, Quận A, T nhìn thấy 01 biển số xe: 54R4-3131 còn sử dụng được nên dừng lại nhặt biển số xe 54R4-3131 rồi dùng có lê cỡ số 10 gắn vào xe và vứt lại có lê cỡ số 10 tại đây.
Sau khi bị ngã xuống đường, chị T2 kiểm tra thì phát hiện sợi dây chuyền kim loại màu vàng bị đứt nhưng vẫn còn trên cổ, mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng thì bị rơi xuống đường, chị Thị 1 sợi dây chuyền và nhặt mặt dây chuyên bỏ vào túi áo và đi về nhà. Đến ngày 22/5/2023, chị Nguyễn Thị Cẩm T2 đến Công an phường A, Quận A trình báo toàn bộ sự việc sự việc
Ngày 25/5/2023. Cơ quan CSĐT Công an Q triệu tập Nguyễn Trung T về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trung T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo bản Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban Nhân dân Quận A, số: 214/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2023, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18k có khối lượng 2,224 chỉ: 01 (một) mặt dây chuyền vàng 18k, có khối lượng 7 phần 6 (0,76 chỉ): Không đủ cơ sơ định giá qua tài liệu đối với tài sản (bút lục số 35-36)
Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số: 54R4-3131 (số khung, số máy không xác định); là phương tiện của Nguyễn Trung T sử dụng để thực hiện hành vi Cướp giật tài sản. Kết luận giám định số: 4874/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận: Số khung, số máy: Bị mài mất số, không xác định được số nguyên thủy, Cơ quan CSĐT Công an Q tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả.
01 (một) mũ bảo hiểm màu đen;
01 (một) đôi dép màu đen;
01 (một) quần jean ngắn màu xanh đen
Là trang phục của Nguyễn Trung T mặc khi thực hiện hành vi Cướp giật tài sản;
01 (một) biển số xe mô tô: 72F1-450.76 sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong quá trình tẩu thoát Nguyễn Trung T đã vứt bỏ tại bãi đất trống dưới chân cầu B, thuộc Tổ D, Khu phố C, phường A, Quận A, Cơ quan CSĐT Công an Q tiến hành truy tim, kết quả chưa thu hồi được biển số nêu trên.
Kết quả làm việc đối với chủ biển số xe: 72F1-450.76 là anh Lâm Trọng N1, sinh năm: 1979, HKTT: ấp V, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, anh N1 xác nhận đã bán xe mô tô có biển số: 72F1-450.76 cho một người (chưa rõ lai lịch) từ lâu, không còn thông tin của người mua. Cơ quan CSĐT Công an Q tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu và chưa có kết quả.
01 (một) biển số xe: 54R4-3131, theo bản Kết luận giám định của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận là biển số thật.
Kết quả làm việc đối với chủ biển số xe: 54R4-3131 là ông Phạm Công B, sinh năm: 1959, HKTT: 160, đường P, Khu phố C, Phường C, quận P, ông B xác nhận đã bán xe mô tô có biển số: 54R4-3131 cho một người (chưa rõ lai lịch) từ lâu, không còn lưu thông tin của người mua. Cơ quan CSĐT Công an Q tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu và chưa có kết quả.
01 (một) cờ lê cỡ số 10 được Nguyễn Trung T sử dụng để tháo biển số: 72F1-450.76 và gắn biển số: 54R4-3131, sau khi sử dụng Nguyễn Trung T đã vứt bỏ cờ lê trên tại bãi đất trống, đường A, thuộc Tổ C, Khu phố E, phường A, Quận A, Cơ quan CSĐT Công an Q tiến hành truy tìm, kết quả chưa thu hồi được vật chứng nêu trên.
01 (một) USB lưu trữ nội dung hình ảnh liên quan đến sự việc (lưu hồ sơ vụ án).
Về dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị Cẩm T2 không yêu cầu Nguyễn Trung T bồi thường thiệt hại vì tài sản chưa bị chiếm đoạt. Đồng thời, không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Trung T về hành vi làm chị Thị t ngã xuống đường khi cướp giật tài sản.
Tại Bản cáo trạng số: 222/CT-VKS ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội cướp giật tài sản.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản băt người phạm tội quả tang, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định: Ngày 18/5/2023, tại đường V, Khu phố C, phường A, Quận A, Nguyễn Trung T lại tiếp tục thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô ép sát xe mô tô của chị Nguyễn Thị Cẩm T2 để giật sợi dây chuyền kim loại màu vàng của chị T2 đang đeo trên cổ. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm và tái phạm nguy hiểm, theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã sử dụng xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu người khác, phạm tội thuộc trường hợp dùng phương tiện nguy hiểm.
Ngoài ra tại bản án 377/2013/HSPT ngày 20/6/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt bị cáo T 03 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản theo quy định điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại bản án 84/2018/HSST ngày 11/6/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12 tuyên phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, bị cáo T đã chấp hành xong án phạt tù, chưa nộp án phí và chưa nộp số tiền thu lợi bất chính, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm đây là tình tiết định khung theo
quy định tại điểm i, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự; bị cáo T có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo T hạm tội rất nghiêm trọng Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo T có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đỗi với 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen; 01 (một) đôi dép màu đen; 01 (một) quần jean ngắn màu xanh đen là trang phục của bị cáo T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 (một) USB là thiết bị chứa hình ảnh thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo T nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng để tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số: 54R4-3131 (số khung, số máy không xác định) là phương tiện của Nguyễn Trung T sử dụng để thực hiện hành vi Cướp giật tài sản. Sau thời gian 03 tháng kê từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với biển số xe 54R4-3131. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu tiêu hủy.
Đối với biển số xe mô tô 72F1-45076 và 01 cờ lê cỡ số 10 do không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên ghi nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo T phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2023.
[2]. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) là thiết bị chứa hình ảnh thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung T.
Tịch thu sung tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen; 01 (một) đôi dép màu đen; 01 (một) quần jean ngắn màu xanh đen.
Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với vối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số: 54R4-3131 (số khung, số máy không xác định). Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng để tìm chủ sở hữu đối với biển số xe 54R4-3131. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu tiêu hủy.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 178/QĐ-VKS, ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3]. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Thị Thùy Trang |
|
Hội thẩm nhân dân Lâm Thị Nga |
Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 217/2023/HS-ST ngày 13/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 217/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Tín
