Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2024/HS-ST
Ngày 05/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Khánh Uẩn.

Ông Nguyễn Trần Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đắc Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 224/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/ QĐXXST- HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại hai điểm cầu là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đối với bị cáo:

Quàng Văn T, sinh năm 1993; CCCD số: [...].

HKTT: Bản Che Phai 2, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn T1, sinh năm 1960 và bà Lò Thị X, sinh năm 1961; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con út; Có vợ là Quàng Thị N, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01. Tại Bản án số 168 ngày 21/9/2022, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong bản án ngày 23/7/2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phòng xét xử- Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Phan A- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 30/3/2024, tại khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy. Ngay sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố T theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: T2 tại túi quần bên trái của T 01 (một) gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy bạc màu trắng, bên trong là lớp giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số: 904/KL- KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói nhỏ được bọc ngoài là lớp giấy màu vàng, bên ngoài là lớp giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,1486 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Heroine)”.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 140/CT- VKSTS ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B, bị cáo T khai nhận: Bị cáo không có nghề nghiệp và bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018 đến nay. Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 29/3/2024, bị cáo đi xe khách từ Điện Biên đến Hà Nội để tìm việc làm. Đến khoảng 06 giờ ngày 30/3/2024, bị cáo đến bến xe khách M, thành phố Hà Nội. Tại đây, bị cáo lên xe bus đến địa phận phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh thì xuống xe rồi đi lang thang trong khu dân cư phường Đ. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo gặp một người đàn ông không quan biết hỏi bị cáo có mua ma túy không. Lúc này, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đưa cho người đàn ông 200.000 đồng để mua ma túy H, người này cầm tiền và đưa lại cho bị

cáo 01 gói nhỏ bọc ngoài lớp giấy bạc màu trắng. Bị cáo cất gói ma túy trong túi quần bên trái và đi bộ về hướng phường T để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang đi đến khu phố D, phường T thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ gói ma túy vừa mua được chưa kịp sử dụng. Ngoài ra, bị cáo không bị thu giữ gì khác. Ngày 29/3/2024, tại tỉnh Điện Biên, bị cáo còn có hành vi mua 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng của 01 người thanh niên không quen biết và đã sử dụng hết. Toàn bộ số tiền bị cáo đã mua ma túy đều là do lao động mà có. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 17 tháng đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viên kiểm sát, không tranh luận gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 30/3/2024, tại khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Quàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1486 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018 đến nay. Bị cáo có 01 tiền án vào năm 2022, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 23/7/2023 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án nhưng chưa được xóa án tích. Do đó, đối với lần phạm tội này, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Từ những phân tích đánh giá nêu trên, xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và giúp bị cáo cai nghiện để trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi bất chính, bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Liên quan trong vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T vào ngày 29/3/2024. Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T ngày 30/3/2024 và người thanh niên bán ma túy cho Thin ngày 29/3/2204 tại Điện Biên, T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.
  3. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ đựng mẫu vật được đựng trong 01 phong bì thư các mép dán kín, niêm phong theo quy định. Bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Ngoài phong bì thể hiện “Mẫu vật hoàn lại vụ Quàng Văn T, 1993, Bản C, C, T, Điện Biên, Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  5. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn ngày 24/6/2024);

  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Chinh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh về hình sự sơ thẩm về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 217/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger