|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 217/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 7 - 2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Ông Mai Xuân Thường
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 22/9/1999
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm D, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ hiện nay: Số E, phố M, khu T, thành phố C, Đài Loan, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
-
Bị đơn: anh Lữ Văn Q, sinh ngày 10/11/1991
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm D, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ hiện nay: Đài Loan, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lữ Hà H và bà Phạm Thị M; địa chỉ: xóm D, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị Nguyễn Thị T và anh Lữ Văn Q tìm hiểu, yêu thương nhau tại Hàn Quốc. Do chị T, anh Q sống bất hợp pháp tại Hàn Quốc, nên bị trục xuất về Việt Nam vào tháng 10/2021. Sau khi về nước chị T, anh Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An ngày 14/12/2021. Tháng 5/2022 chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, ba tháng sau anh Q cũng sang Đài Loan. Tại Đài Loan, vợ chồng chung sống một thời gian, do bất đồng quan điểm nên ly thân, mỗi người một nơi và từ lâu không liên lạc với nhau. Tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Q ngày càng trầm trọng. Chị T cho rằng không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, nên yêu cầu Tòa án cho chị T ly hôn anh Lữ Văn Q.
Về con chung: chị T, anh Q có một con chung là Lữ Hoàng P, sinh ngày 11 tháng 03 năm 2021. Hiện nay cháu P đang được ông Lữ Hà H và bà Phạm Thị M (ông bà nội cháu) chăm sóc, nuôi dưỡng tại xóm D, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và chị nhờ ông bà nội cháu P chăm sóc đến khi chị T về nước; không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết theo quy định, nhưng bị đơn là anh Lữ Văn Q vắng mặt, không có ý kiến.
Chị Nguyễn Thị T không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú hoặc làm việc hiện nay của anh Q, chỉ biết anh Q đang sinh sống tại Đài Loan.
Theo Công văn số 6443/QLXNC-P3 ngày 28/3/2024 của Cục Q1 - Bộ C thì anh Lữ Văn Q xuất cảnh qua cửa khẩu N ngày 20/7/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Lữ Hà H và bà Phạm Thị M (bố mẹ đẻ anh Q), trú tại xóm D, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Q) và yêu cầu ông H, bà M thông báo cho anh Q biết việc chị T đang khởi kiện ly hôn anh Q tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, đề nghị gửi lời khai, ý kiến về Tòa án. Ngày 31/5/2024, Tòa án đã trực tiếp xác minh thông tin của anh Q tại ông H, bà M thì ông H, bà M cho biết: hiện anh Q không có địa chỉ cố định để cung cấp cho Tòa án; anh Q ở Đài Loan thường xuyên liên lạc về với ông H, bà M và anh Q cũng đã biết việc chị T đang khởi kiện ly hôn anh Q tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lữ Hà H và bà Phạm Thị M trình bày:
Chị T và anh Q có một con chung là cháu Lữ Hoàng P, sinh ngày 11 tháng 03 năm 2021, do bố mẹ cháu làm ăn ở nước ngoài nên được ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng từ 05 tháng tuổi đến nay. Nếu chị T, anh Q ly hôn, ông H, bà M đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T, anh Q cho đến lúc chị T, anh Q về nước. Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P: do anh Q gửi về, chị T thỉnh thoảng gửi sữa về cho cháu. Việc chăm sóc cháu P là ông bà tự nguyện, không yêu cầu chị T hoặc anh Q hoàn trả chi phí nuôi dưỡng cháu P.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lữ Văn Q. Về con chung: đề nghị giao con chung Lữ Hoàng P, sinh ngày 11 tháng 03 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông H, bà M có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T, anh Q trong thời gian chị T, anh Q ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: do chị T không yêu cầu nên không xem xét. Về chi phí chăm sóc cháu P: ông H, bà M không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: chị T, anh Q không yêu cầu, nên không xem xét. Về án phí: chị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Về thẩm quyền: chị Nguyễn Thị T, anh Lữ Văn Q có địa chỉ cư trú tại xóm D, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chị T, anh Q hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài (Đài Loan) nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì anh Lữ Văn Q vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự
Đối với nguyên đơn - chị Nguyễn Thị T ủy quyền cho Lê Thị Kim S nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Bà Lê Thị Kim S đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và chị T có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị T là đúng quy định pháp luật.
Đối với bị đơn – anh Lữ Văn Q, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Việc anh Q không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện anh Q cố tình dấu địa chỉ. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lữ Hà H và bà Phạm Thị M: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và đã có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vắng mặt ông H, bà M là đúng quy định.
Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vắng mặt những người tham gia tống tụng là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
[2] Về nội dung
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Lữ Văn Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại Uỷ tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống một thời gian thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay chị T và anh Q đang sinh sống tại Đài Loan, nhưng không quan tâm, liên lạc với nhau. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Lữ Văn Q đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp chận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lữ Văn Q.
[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị T và anh Lữ Văn Q có một con chung là Lữ Hoàng P, sinh ngày 11 tháng 03 năm 2021.
Xét thấy: hiện tại không xác định được anh Q đang ở đâu, làm gì tại nước ngoài, nên không thể giao con chung cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T có nguyện vọng được nuôi con chung, nên cần giao con chung của chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị T, do chị T không yêu cầu.
Chị T nhờ ông bà nội cháu P là ông H, bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P trong thời gian chị ở nước ngoài và được ông H, bà M nhất trí. Nhận thấy: Cháu Lữ Hoàng P được ông H, bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ lúc 05 tháng tuổi đến nay. Tuy vợ chồng chị T, anh Q mâu thuẫn nhau dẫn đến ly hôn, nhưng quan hệ, tình cảm giữa chị T và con chung của vợ chồng với ông H, bà M vẫn tốt đẹp. Việc ông H, bà M đề nghị được thay chị T, anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P là tự nguyện và ông bà có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P. Do đó, để đảm bảo cháu P có người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu P, cần chấp nhận đề nghị của chị T, sự tự nguyện của ông H, bà M, theo đó ông H, bà M có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T, anh Q trong thời gian chị T ở nước ngoài. Ông H, bà M không yêu cầu hoàn trả chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T, anh Q, miễn xét.
Anh Q có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu và anh Lữ Văn Q chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 104; 122, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, Điều 147; Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trà .
- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lữ Văn Q.
-
Về con chung:
- Giao con chung là Lữ Hoàng P, sinh ngày 11 tháng 03 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 07/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Ông Lữ Hà H, bà Phạm Thị M chịu trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lữ Hoàng P trong thời gian chị T ở nước ngoài.
- Về cấp dưỡng: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu; anh Lữ Văn Q chưa có ý kiến nên miễn xét; ông H, bà M không yêu cầu hoàn trả chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012699 ngày 29/02/2024.
-
Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị T, anh Lữ Văn Q đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Ông Lữ Hà H và bà Phạm Thị M vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật../.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
6
Bản án số 217/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 217/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con