TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 217/2025/KT - ST
Ngày: 30/6/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn
- Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 455/2024/TLST-KDTM ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5578/2025/QĐ-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5923/2025/QĐ - ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (P)
Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức T;
Địa chỉ liên lạc: Lầu M, số B, L, phường A, Quận C.
(Theo Giấy ủy quyền số 7654/UQ-PVB ngày 24/9/2024)
Bị đơn: Công ty cổ phần S
Trụ sở: A02 – HDC R, đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Như Nhã K
(Ông T có mặt, đại diện Công ty cổ phần S vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các tài liệu khác, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ có ông Trần Đức T đại diện ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt là P) cấp tín dụng cho Công ty cổ phần S (gọi tắt là Công ty S) ký kết Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ, nội dung cụ thể như sau:
- Số Hợp đồng cho vay: 2912/2021/HĐTD/PVB – CN.GĐ ngày 27/12/2021
- Số Khế ước nhận nợ: LD2136220731 ngày 28/12/2021
- Ngày giải ngân: 28/12/2021
- Ngày đến hạn: 27/12/2025
- Số tiền cho vay: 783.000.000 đồng
- Tổng số tiền đã giải ngân: 783.000.000 đồng.
- Mục đích cho vay: Mua xe ô tô PEUGEOT 3008 KJEP6Z-01, màu đỏ, biển kiểm soát: 51K-084.09;
- Thời hạn cho vay: 48 tháng;
- Lãi suất trong hạn: Từ ngày 28/12/2021 đến ngày 27/09/2022 lãi suất bằng: 8,5%/năm.
- Từ ngày 28/09/2022, lãi suất được điều chỉnh 03 (ba) tháng/lần, bằng LSCS + Biên độ 3,5%/năm;
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn;
- Lãi chậm trả: 10%/năm tỉnh trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
- Kỳ hạn trả nợ gốc: Chia thành 48 kỳ, mỗi kỳ 01 tháng, trả vào ngày 25 hàng tháng,
- Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả vào ngày 25 hàng tháng.
Tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên Công ty Cổ phần S đã thế chấp xe ô tô nhãn hiệu: PEUGEOT, số loại: 3008 KJEP6Z-01, màu sơn: Đỏ, số khung: RN2KJEP6ZMM067241, số máy: 581861610UF205G02, biển kiểm soát: 51K-084.09 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 50084612 do Phòng C - Công an Thành phố H cấp ngày 25/12/2021 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty S. Theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 2912/2021/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ ngày 27/12/2021.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ.
Ngân hàng TMCP Đ đã nhiều lần làm việc, tạo điều kiện để Công ty S thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng Công ty S vẫn tiếp tục vi phạm cam kết không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng, có biểu hiện kéo dài thời gian và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Tạm tính đến ngày 20/09/2024, Công ty S còn nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là: 695.029.053 đồng (Sáu trăm chín mươi lăm triệu, không trăm hai mươi chín nghìn, không trăm năm mươi ba đồng). Trong đó:
Nợ gốc: 547.817.918 đồng;
Nợ lãi: 147.211.135 đồng.
Nay, P khởi kiện Công ty S và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, TP. giải quyết nội dung như sau:
- Buộc Công ty S thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 695.029.053 đồng (Sáu trăm chín mươi lăm triệu, không trăm hai mươi chín nghìn, không trăm năm mươi ba đồng) bao gồm 547.817.918 đồng nợ gốc và 147.211.135 đồng nợ lãi. (Tạm tính đến ngày 20/09/2024). Trả một lần ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc Công ty S thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, các phụ lục Hợp đồng tín dụng (nếu có) đã ký giữa các bên kể từ ngày 21/09/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ. Chi tiết tài sản: Xe ô tô nhãn hiệu: PEUGEOT, số loại: 3008 KJEP6Z-01, màu sơn: Đỏ, số khung: RN2KJEP6ZMM067241, số máy: 581861610UF205G02, biển kiểm soát: 51K-084.09 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe 50084612 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an Thành phố H cấp ngày 25/02/2021 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty S. Theo Hợp đồng thế chấp xẻ tô số 2912/2021/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ ngày 27/12/2021. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty S vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Bị đơn đại diện Công ty S vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không có bản tự khai tại Tòa.
Tại phiên tòa:
Đại diện Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Buộc Công ty S phải trả cho P như sau:
Nợ gốc: 547.817.918 đồng.
Lãi trong hạn: 109.482.124 đồng
Lãi trên gốc quá hạn: 107.768.973 đồng
Lãi trên lãi quá hạn: 15.766.934 đồng
Tổng lãi tính đến ngày xét xử 30/6/2025: 233.018.032 đồng
Tổng dư nợ tính đến ngày xét xử 30/6/2025: 780.835.950 (Bảy trăm tám mươi triệu, tám trăm ba mươi lăm ngàn, chín trăm năm mươi) đồng.
Buộc Công ty S thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng cho đến khi Công ty S thanh toán xong.
Bị đơn đại diện Công ty S vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc là 547.817.918 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử 30/6/2025 là 233.018.032 đồng. Tổng cộng là 780.835.950 đồng (Bảy trăm tám mươi triệu, tám trăm ba mươi lăm ngàn, chín trăm năm mươi) đồng là có căn cứ, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp:
Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện Công ty S về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng nên xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng theo khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Ngân hàng TMCP Đ có trụ sở tại A - HDC R, đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[3] Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn Công ty S và đại diện pháp luật là bà Nguyễn Như Nhã K đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành tống đạt, đăng trên phương tiện thông tin đại chúng trên 03 số báo liên tiếp các ngày 23; 24; 25/5/2025 Thông báo thụ lý vụ án, các Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập tham gia phiên họp, hòa giải, Thông báo ngày xét xử lần thứ nhất và giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Thông báo ngày xét xử lần thứ hai và giấy triệu tập tham gia phiên tòa. Tất cả các lần được triệu tập nêu trên, Công ty S đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, Công ty S tiếp tục vắng mặt không có lý do nên căn cứ Khoản 2 Điều 227, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Công ty S.
[4] Về nội dung vụ án:
Xét hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 2912/2021/HĐTD/PVB – CN.GĐ ngày 27/12/2021 giữa Ngân hàng TMCP Đ (P) với Công ty cổ phần S như sau:
Ngân hàng TMCP Đ(P) hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0101057919 đăng ký lần đầu ngày 01/10/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 13/10/2014 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp.
Công ty S hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 03114400740 đăng ký lần đầu ngày 27/12/2011, đăng ký thay đổi lần thứ 11 ngày 23/02/2023 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp.
Ngày 27/12/2021 Ngân hàng TMCP Đ và Công ty S ký Hợp đồng cho vay số 2912/2021/HĐTD/PVB – CN.GĐ và Khế ước nhận nợ số: LD2136220731 ngày 28/12/2021 với nội dung: Ngân hàng TMCP Đ cho Công ty S vay số tiền 783.000.000 đồng, ngày giải ngân: 28/12/2021, ngày đến hạn: 27/12/2025, tổng số tiền đã giải ngân: 783.000.000 đồng. Mục đích cho vay: Mua xe ô tô PEUGEOT 3008 KJEP6Z-01, màu đỏ, biển kiểm soát: 51K-084.09; Thời hạn cho vay: 48 tháng; Lãi suất trong hạn: Từ ngày 28/12/2021 đến ngày 27/09/2022 lãi suất bằng: 8,5%/năm. Từ ngày 28/09/2022, lãi suất được điều chỉnh 03 (ba) tháng/lần, bằng LSCS + Biên độ 3,5%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: 10%/năm tỉnh trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Kỳ hạn trả nợ gốc: Chia thành 48 kỳ, mỗi kỳ 01 tháng, trả vào ngày 25 hàng tháng, Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả vào ngày 25 hàng tháng.
Như vậy, hợp đồng được ký là phù hợp với chức năng ngành nghề đăng ký kinh doanh, nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch.
[4.1] Xét yêu cầu nợ gốc như sau:
Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 2912/2021/HĐTD/PVB – CN.GĐ ngày 27/12/2021 và Khế ước nhận nợ số: LD2136220731 ngày 28/12/2021 P và Công ty S ký với nội dung: Ngân hàng P cho Công ty S1 vay số tiền 783.000.000 đồng. Theo đó, ngày 28/12/2021 P đã giải ngân số tiền đã giải ngân: 783.000.000 đồng cho Công ty S. Các tài liệu trên đều có thể hiện con dấu và chữ ký của Công ty S do phía Ngân hàng cung cấp và đã được đối chiếu bản chính.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nói trên, Công ty S đã trả nợ cho P số tiền 315.212.024 (Ba trăm mười lăm triệu, hai trăm mười hai ngàn, không trăm hai mươi bốn) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 235.182.082 (Hai trăm ba mươi lăm triệu, một trăm tám mươi hai ngàn, không trăm tám mươi hai) đồng, nợ lãi là 80.029.942 (Tám mươi triệu, không trăm hai mươi chín ngàn, chín trăm bốn mươi hai) đồng. Sau đó Công ty S1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên P đã nhiều lần có thông báo yêu cầu Công ty S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng Công ty S vẫn chưa trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 547.817.918 (Năm trăm bốn mươi bảy triệu, tám trăm mười bảy ngàn, chín trăm mười tám) đồng. Trong suốt quá trình Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án Công ty S và đại diện pháp luật đã được Tòa án triệu tập nhưng cố tình vắng mặt không chấp hành giấy triệu tập của Tòa, cũng không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P. Điều này vừa chứng tỏ Công ty S không tôn trọng quy định của pháp luật, không chấp hành yêu cầu triệu tập của Tòa án, không tự bảo vệ quyền lợi của mình, do đó Tòa án chỉ xem xét các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Do đó, Ngân hàng P yêu cầu Công ty S phải trả số tiền nợ gốc là 547.817.918 (Năm trăm bốn mươi bảy triệu, tám trăm mười bảy ngàn, chín trăm mười tám) đồng là có căn cứ để chấp nhận.
[4.2] Xét yêu cầu nợ lãi như sau:
Căn cứ Hợp đồng cho vay số 2912/2021/HĐTD/PVB – CN.GĐ ngày 27/12/2021 và Khế ước nhận nợ số: LD2136220731 ngày 28/12/2021 P và Công ty S thì Công ty S1 được hưởng mức lãi suất như sau:
- Lãi suất trong hạn: Từ ngày 28/12/2021 đến ngày 27/09/2022 lãi suất bằng: 8,5%/năm.
- Từ ngày 28/09/2022, lãi suất được điều chỉnh 03 (ba) tháng/lần, bằng LSCS + Biên độ 3,5%/năm;
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn;
- Lãi chậm trả: 10%/năm tỉnh trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
- Kỳ hạn trả nợ gốc: Chia thành 48 kỳ, mỗi kỳ 01 tháng, trả vào ngày 25 hàng tháng,
- Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả vào ngày 25 hàng tháng.
Do Công ty S vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc nên theo thỏa thuận về lãi suất quy định tại Điều 2 của hợp đồng nêu trên thì Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi, và được quy định trong hợp đồng. Do đó, tính đến ngày xét xử 30/6/2025 số tiền lãi được tính là 233.018.032 (Hai trăm ba mươi ba triệu, không trăm mười tám ngàn, không trăm ba mươi hai) đồng là có cơ sở chấp nhận.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử nếu Công ty S không trả, thì phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay số 2912/2021/HĐTD/PVB – CN.GĐ ngày 27/12/2021 và Khế ước nhận nợ số: LD2136220731 ngày 28/12/2021 cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ.
[4.3] Xét yêu cầu phát mại tài sản như sau:
Để bảo đảm khoản nợ cho Công ty S, Công ty S đã ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 2912/2021 ngày 27/12/2021 đối với tài sản thế chấp xe ô tô PEUGEOT, số loại: 3008 KJEP6Z-01, màu đỏ, biển kiểm soát: 51K-084.09; số khung RN2KJEP6ZMM067241, số máy 5818661610UF205G02. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm đã được thực hiện tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp. ngày 27/12/2021 theo đúng quy định nên phát sinh hiệu lực.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thể hiện tại trụ sở Công ty S: A02 – HDC R, đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận công ty không hoạt động, không ghi nhận có xe ô tô PEUGEOT, số loại: 3008 KJEP6Z-01, màu đỏ, biển kiểm soát: 51K-084.09; số khung RN2KJEP6ZMM067241, số máy 5818661610UF205G02.
Do đó, trong trường hợp Công ty S không thanh toán được nợ của Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm là có căn cứ để chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng:
Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng. Ngân hàng đã tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên Công ty S phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng.
[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí trên phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tố tụng và nội dung vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 335, 336, 342, 343 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 4, Khoản 5 Điều 15, Khoản 2 Điều 23, Khoản 1,2 Điều 56, Điều 60, Điều 61 Nghị định 163/2012/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm;
- Áp dụng Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm.
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQHK14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (P) về việc:
Buộc Công ty cổ phần S phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ (P) tổng số tiền là 780.835.950 (Bảy trăm tám mươi triệu, tám trăm ba mươi lăm ngàn, chín trăm năm mươi) đồng. Trong đó số tiền nợ gốc là 547.817.918 (Năm trăm bốn mươi bảy triệu, tám trăm mười bảy ngàn, chín trăm mười tám) đồng, tổng nợ lãi tính đến ngày xét xử 30/6/2025 là 233.018.032 (Hai trăm ba mươi ba triệu, không trăm mười tám ngàn, không trăm ba mươi hai) đồng.
Kể từ ngày 01/7/2025, Công ty cổ phần S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 2912/2021/HĐTD/PVB – CN.GĐ ngày 27/12/2021 và Khế ước nhận nợ số: LD2136220731 ngày 28/12/2021 cho đến ngày thanh toán hết các nghĩa vụ nợ với Ngân hàng TMCP Đ (P). Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Đ (P) thì lãi suất mà Công ty cổ phần S phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (P) cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP Đ (P).
Việc trả tiền được thực hiện đủ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp Công ty cổ phần S thanh toán đủ số nợ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản thì Ngân hàng TMCP Đ (P) có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa thế chấp và trả lại những giấy tờ của tài sản thế chấp đã nhận của Công ty cổ phần S.
Trong trường hợp Công ty cổ phần S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Đ (P) được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là Xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, số loại: 3008 KJEP6Z-01, màu đỏ, biển kiểm soát: 51K-084.09; số khung RN2KJEP6ZMM067241, số máy 5818661610UF205G02 do Công ty cổ phần S đứng tên chủ sở hữu để thu hồi nợ.
- Về chi phí tố tụng:
Công ty cổ phần S phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ (P) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty cổ phần S phải chịu án phí là 35.233.438 (Ba mươi lăm triệu, hai trăm ba mươi ba ngàn, bốn trăm ba mươi tám) đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ (P) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.900.581 (Mười lăm triệu, chín trăm ngàn, năm trăm tám mươi mốt) đồng theo biên lai thu số 0067026 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
Các đương sự thi hành án tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ./."
Nơi nhận: -TAND Tp. HCM; -VKSNDTp. Thủ Đức -THATp. Thủ Đức; -Các đương sự; -Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hải Yến |
Bản án số 217/2025/KT - ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 217/2025/KT - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam - Công ty cổ phần Sun Capital
