Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG


Bản án số: 217/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/04/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Châu

Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Châu Long

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Hồ Hương G - sinh năm 1970; HKTT và nơi ở: Số A, M, tập thể M, phường B, quận H, Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn : Ông Phạm Quốc T– sinh năm 1962; HKTT: Số A, M, tập thể M, phường B, quận H, Hà Nội. Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Đội phạm nhân số 45, phân trại số B, Trại giam N, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Hồ Hương G trình bày:

Bà và ông Phạm Quốc T xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/4/1994 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số A, M, tập thể M, phường B, quận H, Hà Nội. Ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách, lối sống không hòa hợp, vợ chồng bất đồng về tư duy làm ăn kinh tế và cách đối nhân xử thế. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ giữa năm 2007. Ông bà chính thức ly thân từ cuối năm 2007. Khoảng giữa năm 2008, ông T bị bắt và bị Tòa án xử phạt tù chung thân về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi bản án có hiệu lực, ông T đi chấp hành án tại Trại giam N. Nay bà G xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà kiên quyết xin ly hôn ông T để thanh thản sống nốt phần đời còn lại.

Về con chung: Ông, bà G có 01 con chung là Phạm Anh T1 – sinh năm 1995 (Nữ), đã thành niên, có cuộc sống riêng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Bà xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Bị đơn là ông Phạm Quốc T trình bày:

Ông và bà Phạm Hồ Hương G xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/4/1994 tại UBND phường B, quận H, Hà Nội. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc tới năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống và tư duy làm ăn kinh tế. Mâu thuẫn trầm trọng từ giữa năm 2007. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2007, không ai quan tâm đến ai. Năm 2008, ông làm ăn thua lỗ và dính vào vòng lao lý. Qua hai cấp xét xử, ông bị xử phạt tù chung thân và phải đi chấp hành án tại Trại giam N. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông đồng ý thuận tình ly hôn với bà G.

Về con chung: Ông, bà có 01 con chung là Phạm Anh T1 – sinh năm 1995 (Nữ), đã thành niên, có cuộc sống riêng.

Về tài sản chung, nhà ở và công nợ chung: Ông xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện đang chấp hành án phạt tù nên ông T đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết và xét xử vụ án. Ngoài ra, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên tòa. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang chấp hành án tại trại giam nhưng đã có lời khai trình bày quan điểm và nguyện vọng. Các đương sự cùng có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Về nội dung vụ án: Bà G và ông T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/4/1994 tại UBND phường B, quận H, Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, ông bà phát sinh mâu thuẫn từ năm 2007 do hai bên không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông, bà đã ly thân từ năm 2007, tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà G. Về con: Ông bà có 01 (Một) con chung là Phạm Anh T1 – sinh năm 1995, đã thành niên. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Hồ Hương G xin ly hôn với ông Phạm Quốc T có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi bị bắt tại: Số A, M17, tập thể M, phường B, quận H, Hà Nội. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Các đương sự cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Hồ Hương G và ông Phạm Quốc T xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, Hà Nội vào ngày 05/4/1994. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét quan hệ hôn nhân của các đương sự, nhận thấy: Hai bên chung sống hạnh phúc đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách, lối sống không hòa hợp, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và tư duy làm ăn kinh tế. Ông bà đã ly thân từ năm 2007, trước khi ông T bị bắt. Sau khi ông T đi chấp hành án, bà G có đi lại thăm hỏi vì trách nhiệm và nghĩa vụ, chứ không còn tình cảm với ông T. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú của các đương sự thể hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng G – T đã xảy ra từ trước khi ông T bị bắt và phải đi chấp hành hình phạt tù. Nay các đương sự cùng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, cùng thuận tình ly hôn để giải phóng cho nhau. Đây là sự tự nguyện của các đương sự, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, cần được chấp nhận.

Về con chung: Bà G và ông T có 01 con chung là Phạm Anh T1 – sinh năm 1995 (Nữ), đã thành niên, có cuộc sống riêng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phạm Hồ Hương G đối với ông Phạm Quốc T.
  2. Bà Phạm Hồ Hương G được ly hôn ông Phạm Quốc T.

    Chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 01 ngày 05/4/1994 do UBND phường B, quận H, thành phố Hà Nội cấp cho bà Phạm Hồ Hương G và ông Phạm Quốc T không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: Xác nhận bà G và ông T có 01 (Một) con chung là Phạm Anh T1 – sinh năm 1995 (Nữ), đã thành niên.
  4. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
  5. Về án phí: Bà G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà G đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0024582 ngày 18/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng. Nay chuyển thành án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, vắng mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hai Bà Trưng;
  • - Chi cục THADS quận Hai Bà Trưng
  • - UBND phường Bạch Mai,
  • quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội
  • (Nơi ĐKKH)
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Hoàng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 217/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger