|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 217/2025/DS-ST Ngày: 30-12-2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, ông Nguyễn Văn Ngân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 132/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-DS ngày 24/11/2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 40/2025/QĐST-DS ngày 12/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1). Địa chỉ trụ sở: số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn S, ông Nguyễn Minh H và ông Lý Nhựt H1 – Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ liên lạc: Tầng D, Số A T, phường L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 5068/2025/UQ-VPB ngày 26/9/2025).
- Bị đơn: Ông Lê Văn H2, sinh năm 1982, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: tổ H, ấp P, xã P, tỉnh An Giang.
(Ông H có mặt, ông H2 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Nguyễn Minh H đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 03/02/2023, tại Ngân hàng TMCP V – chi nhánh Thành phố H, Phòng G, ông Lê Văn H2 có ký hợp đồng vay số LN2302028246606 hạn mức cho vay 25.000.000 đồng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay 36 tháng (từ ngày 03/02/2023 đến ngày 05/01/2026), lãi suất cho vay là 30%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất, phương thức trả gốc, lãi cố định 01 tháng/ lần vào ngày 05 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc lãi đầu tiên vào ngày 05/3/2023, hình thức thanh toán là thu nợ từ tài khoản của khách hàng mở tại V1. Quá trình thực hiện, ông H2 chỉ thanh toán số tiền 4.332.743 đồng, gồm nợ gốc 1.887.932 đồng, nợ lãi 2.444.811 đồng, đến ngày 05/7/2023 chuyển sang nợ quá hạn.
Vào ngày 02/02/2023, tại Ngân hàng TMCP V – chi nhánh Thành phố H, Phòng G, ông Lê Văn H2 mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử theo hợp đồng số LN2302028242717 với hạn mức 15.000.000 đồng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn 60 tháng, lãi suất 39.48%%/năm. Sau khi cấp tín dụng, giải ngân tiền cho khách hàng thì đến ngày 13/7/2023 ông H2 vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và chuyển nợ quá hạn.
Đại diện ngân hàng có liên hệ đôn đốc, nhắc nhở ông H2 thanh toán nợ cho ngân hàng nhưng vẫn không thực hiện, nhận thấy ông Lê Văn H2 đã vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nay Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là V1) yêu cầu ông Lê Văn H2 có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm một lần số tiền tổng cộng 78.174.917 đồng (bằng chữ: bảy mươi tám triệu một trăm bảy mươi bốn nghìn chín trăm mười bảy đồng), gồm nợ gốc 33.782.463 đồng, nợ lãi 44.392.454 đồng tạm tính đến ngày 30/12/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 31/12/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho V1.
Đối với bị đơn ông Lê Văn H2: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Văn H2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền là 78.174.917 đồng, trong đó nợ gốc 33.782.463 đồng, nợ lãi 44.392.454 đồng và lãi phát sinh từ ngày 31/12/2025 cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất của hai hợp đồng số LN2302028246606 ngày 03/02/2023 và số LN2302028242717 ngày 02/02/2023. Bị đơn ông Lê Văn H2 phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiêu dùng nên đây là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang theo điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Lê Văn H2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt ông H2.
[2] Về nội dung:
Vào ngày 02/02/2023, ông Lê Văn H2 và Ngân hàng TMCP V có ký kết hợp đồng số LN2302028242717, hạn mức 15.000.000 đồng, ngày 03/02/2023, ký hợp đồng số LN2302028246606, hạn mức 25.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H2 chỉ thanh toán số tiền 4.332.743 đồng, trong đó nợ gốc 1.887.932 đồng, nợ lãi 2.444.811 đồng, còn lại vốn và lãi thì ngưng đến nay chưa trả, đã chuyển quá hạn. Xét thấy, hợp đồng tín dụng số LN2302028242717 ngày 02/02/2023 và LN2302028246606 ngày 03/02/2023 được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, thoả thuận lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Quá trình giải quyết vụ án, ông H2 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản đối nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc ông Lê Văn H2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 78.174.917 đồng, trong đó nợ gốc 33.782.463 đồng, nợ lãi 44.392.454 đồng tạm tính đến ngày 30/12/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất của hợp đồng số LN2302028246606 ngày 03/02/2023 và LN2302028242717 ngày 02/02/2023 đã ký kết giữa ông H2 với Ngân hàng TMCP V.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông H2 phải chịu án phí dân sự 3.909.000 đồng (78.174.917 đồng x 5%) theo Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với bị đơn ông Lê Văn H2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Lê Văn H2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 78.174.917 đồng (bằng chữ: bảy mươi tám triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn chín trăm mười bảy đồng), trong đó vốn gốc 33.782.463 đồng, nợ lãi 44.392.454 đồng tính đến ngày 30/12/2025.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Lê Văn H2 phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số LN2302028246606 ngày 03/02/2023 và số LN2302028242717 ngày 02/02/2023 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí và được hoàn lại 1.620.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0003046 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Ông Lê Văn H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.909.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 217/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 217/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
